Chủ Nhật, 8 tháng 10, 2017

Vụ án xét lại chống đảng

RFA 22-24/10/13
Mặc Lâm, RFA



Cho tới nay vụ án mang tên “Xét lại chống đảng” vẫn chưa bao giờ được chính thức nhìn nhận trong hệ thống chính trị Việt Nam mặc dù gần ba trăm nạn nhân của nó đã lên tiếng bằng nhiều cách. Mặc Lâm tìm hiểu hồ sơ vụ án qua lời kể của nhân chứng, nạn nhân trực tiếp trong vụ án này nhằm soi rọi phần nào các oan khuất mà chế độ vẫn cố che dấu.



Khi tượng đài bị đạp đổ

Ngày 16 tháng 10 năm 2013, ông Bela Biszku, Bộ trưởng nội vụ Hungary, 92 tuổi bị tòa án Hungary truy tố tội “đồng lõa với những hành vi tội ác” vì đã ra lệnh hay bao che cho những hành động đàn áp sau khi quân Liên Xô dập tắt cuộc nổi dậy của nhân dân Hungary giết chết hơn 50 người, đa số là sinh viên.

57 năm trước khi phiên tòa xử biến cố đẫm máu này, ngày 23 tháng 10 năm 1956 vào lúc 9 giờ 30 sáng nhân dân Hungary đã lật đổ tượng đài Stalin trước khi cuộc nổi dậy chống Liên Xô bị xe tăng Liên Xô dìm trong biển máu.

Bốn tháng sau đó, một tượng đài khác của Stalin bị lật đổ ngay tại quê hương của lãnh tụ khát máu này. Nhưng lần này thì không phải là tượng đài bằng đồng ngoài công viên hay quảng trường Kremlin của Liên Xô mà là tượng đài trong lòng người cộng sản vốn bị nhồi sọ tâm lý tôn sùng lãnh tụ.

Cụm từ “tệ sùng bái cá nhân” được mang ra trước đại hội Đảng Cộng sản Liên Xô lần thứ 20 tổ chức vào ngày 25 tháng 2 năm 1956 bởi Nikita Sergeyevich khrushchyov Bí thư thứ nhất Ban chấp hành Trung ương đảng Cộng sản Liên Xô đọc trong một cuộc họp kín, tố cáo sự sùng bái Stalin do lợi ích cục bộ và bên cạnh đó Khrushchyov cũng mạnh mẽ lên tiếng xác định lập trường sống chung hòa bình với các nước tư bản mà trước đó Stalin luôn coi là kẻ thù cần phải đấu tranh chống lại bằng mọi phương tiện.



Sống chung hòa bình, một cải tổ khó chấp nhận

Ý tưởng mới mẻ này đã lan nhanh trong thế giới cộng sản và bốn năm sau đó, tháng 11 năm 1960 Đại hội Quốc tế Cộng sản tổ chức tại Liên Xô có 81 đảng cộng sản tham dự thì 70 đảng ủng hộ đường lối này của Khrushchyov, còn lại 10 đảng không đồng tình, dẫn đầu là Đảng Cộng sản Trung Quốc, và đảng duy nhất đứng giữa không theo bên nào là Việt Nam lúc ấy còn giữ danh xưng Đảng Lao Động Việt Nam.

Đại tá Bùi Tín nguyên Phó Tổng biên tập báo Nhân Dân cho biết hoàn cảnh lúc ấy:

Trong đại hội quốc tế đó thì mới bắt đầu chia rẽ. Tại đại hội đó có 70 đảng theo Liên-xô, gần 10 đảng theo Trung Quốc. Lúc đó đảng Lao động Việt Nam đứng giữa, rất thận trọng, tính đứng ra hòa giải chứ không chia rẽ nên không tuyên bố. Trong thời kỳ đầu ông Hồ Chí Minh tham gia có ý ngả về Liên-xô nhưng khi trở về năm 61-62 thì ngày càng bị Mao Trạch Đông rồi Chu Ân Lai, Lưu Thiếu Kỳ lôi kéo. Viện trợ của Trung Quốc sau Điện Biên Phủ vẫn còn rất lớn cho nên theo quan điểm của ông Trường Chinh thì có phần ngả về Trung quốc.

Trước những chuyển biến có tính cách bước ngoặc ấy, Trường Chinh đã giao cho ông Hoàng Minh Chính lúc ấy đang là chủ tịch Viện Triết học soạn thảo văn kiện đi dự đại hội Cộng sản quốc tế còn được gọi là Đại hội 81. Bà Lê Hồng Ngọc vợ ông Hoàng Minh Chính kể lại chi tiết về việc này:

Hồi anh Chính ở bên Liên Xô về thì anh ấy theo quan điểm của Khrushchyov. Khi anh ấy đang làm ở Viện Triết thì ông Trường Chinh gọi lên nói rằng Hoàng Minh Chính đi học ở bên ngoài về và bây giờ trong Bộ chính trị đang tranh cãi nhau về Liên Xô và Trung Quốc rằng có nên đi dự đại hội 81 của Đảng Cộng sản không? Bây giờ giao cho Hoàng Minh Chính tập hợp tài liệu viết một số ý kiến để trình bày với Bộ chính trị. Sau đó ông Chính về mời ông Hà Xuân Trường là thông gia của nhà tôi với ông Trần Minh Việt ( Phó bí thư thành ủy Hà Nội ) ba ông họp nhau lại cùng bàn bạc viết bài đó để mà trình bày cho Bộ chính trị về năm quan điểm của Khrushchyov và của Mao chống nhau như thế nào, và tại sao lại nên theo quan điểm của Khrushchyov.

Ông Trường Chinh hỏi rằng chuyện này có tiền lệ không? Ý ông ấy muốn hỏi là muốn giành độc lập tự do mà không cần đánh nhau, đổ máu, thì ông Chính trả lời là có. Mấy hôm sau họp Bộ chính trị với bài của ông Chính và Bộ chính trị nhất trí với bài viết này và chuẩn bị cử người tham dự đại hội đảng 81. Nhưng không ngờ chỉ ít lâu sau quan điểm ấy lại bị bác và quay lại với quan điểm của Trung Quốc.



Trở mặt với đồng chí

Trước khi Đại hội 81 khai mạc thì phe theo Trung Quốc đã lập được Nghị quyết 9 với nội dung “Ðường lối đối nội, đối ngoại của đảng và nhà nước là thống nhất về cơ bản với đường lối đối nội đối ngoại của đảng và nhà nước Trung Quốc.”

Vốn là người ủng hộ nhiệt tình tư tưởng xét lại theo kiểu Liên Xô, Hoàng Minh Chính không chấp nhận sự Bắc thuộc này và ông đã nhanh tay tuồn văn kiện của ông viết có tên: “Về Chủ nghĩa giáo điều ở Việt Nam” cho nhiều người ngay trong Hội nghị Trung ương 9, trong ấy có những bản được chuyển tới cho một số ủy viên Trung ương đảng.

Bà Lê Hồng Ngọc vợ của ông Hoàng Minh Chính nhớ lại việc này như sau:

Sau khi đi học Liên Xô về anh cũng có kể cho tôi nghe vài câu chuyện là anh rất tin tưởng vào đảng Cộng sản Liên Xô và muốn đảng mình theo đảng Cộng sản Liên Xô để đổi mới. Anh ấy cho rằng đảng mình sẽ có sự thay đổi cho nên là anh nói từ khi anh học ở Liên Xô cho đến khi về trong nước anh vẫn kiên trì nói lên cái quan điểm mà anh cho là đúng. Anh chống Trung Quốc, không bằng lòng với Trung Quốc.

Trước chủ trương hoà hoãn, sống chung hòa bình với thế giới tư bản của Khrushchyov, Việt Nam đứng giữa hai chọn lựa, nếu theo Liên Xô sẽ không hướng đến việc tham gia cuộc chiến với miền Nam bằng chiến tranh giải phóng, với xương máu và có thể làm cho Mỹ tham gia cuộc chiến. Nếu chọn Trung Quốc có nghĩa sẽ chọn học thuyết cứng rắn của Mao Trạch Đông tiến hành cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam càng sớm càng tốt.

Phe theo Trung Quốc gồm Lê Duẩn, Tổng bí thư, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, Chủ nhiệm Tổng cục chính trị QĐND Việt Nam, Lê Đức Thọ, Trưởng ban tổ chức Trung ương Đảng, cũng là người vẽ ra học thuyết chống chủ nghĩa xét lại của Liên Xô, Trần Quốc Hoàn Bộ trưởng Công an.

Trong khi đó nhóm lớn hơn ngả theo khuynh hướng thân Liên Xô như: Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Ủy viên Bộ chính trị, chủ tịch Quân ủy, bộ trưởng Quốc phòng. Nguyên Ngoại trưởng Ung văn Khiêm, Ủy viên Bộ chính trị Dương Bạch Mai, Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh, Lê Thanh Nghị, Trần Minh Việt, Bùi Công Trừng, Hoàng Minh Chính.



Thanh trừng hay xử lý nội bộ?

Năm 1967, hơn 40 nhân vật quan trọng bị bắt ở Hà Nội với cáo buộc đã theo đuổi chủ nghĩa xét lại. Việc bắt giữ Thứ trưởng Bộ quốc phòng Nguyễn Văn Vịnh và tướng Đặng Kim Giang để ép hai ông này cung khai tội danh phản quốc áp đặt lên đại tướng Võ Nguyên Giáp đã giáng một đòn nặng nề lên những người thân cận với ông. Vụ thanh trừng này được ông Nguyễn Minh Cần, Ủy viên Thành ủy Hà Nội và là Phó chủ tịch Ủy ban hành chính Hà nội, chủ nhiệm báo Thủ đô Hà nội, một người chọn ở lại Liên Xô khi vụ án diễn ra cho biết:

Ông Võ Nguyên Giáp có phải đâu là người phản quốc, chống đảng. Ông là người rất có công với Đảng và rất có công với đất nước nhưng ông ấy không tán thành đường lối của Trung Quốc. Nhưng ông khéo lắm vì ông biết cái thế của ông. Vậy mà người ta cũng tìm cách gạt ra. Có thời kỳ ông phải đi làm cái việc mà người dân gọi là Đại tướng mà đi đặt vòng…họ đưa những người dưới tay của ông ấy lên để chỉ huy và kềm kẹp ông.

Vụ án vẫn không thể khép lại sau cái chết của Tướng Giáp vào ngày 4 tháng 10 năm 2013 vì sau lưng ông vẫn còn nhiều người còn sống cần được minh oan, mà lớn nhất là cái chết của ông Vũ Đình Huỳnh, bí thư riêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và người con trai của ông là nhà văn Vũ Thư Hiên đã ngậm đắng nuốt cay nhiều năm trời trong các nhà tù mà không biết mình phạm tội gì đối với nhân dân, đất nước.



Chống Đảng hay chống tướng Giáp?

Trong thế giới Cộng sản những hình tượng như Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh, Kim Nhật Thành, Fidel Castro…cùng nhiều lãnh tụ nữa được các nhà nước cộng sản tô lên những màu sắc huyền thoại nhằm tạo cho dân chúng niềm tin không có thật vào những thành quả mà những huyền thoại này sẽ dẫn dắt dân tộc của họ tiến vào thế giới đại đồng, nơi không còn người nghèo và mọi bất công sẽ biến mất.

Những hình tượng ấy đã bị Nikita Sergeyevich Khrushchyov, Bí thư thứ nhất Ban chấp hành Trung ương đảng Cộng sản Liên Xô đạp đổ vào năm 1956 qua cụm từ “chống sùng bái cá nhân”. Cũng từ hành động có tính phản kháng cảnh tỉnh này đã dấy lên một phong trào được gọi là chủ nghĩa xét lại trong thế giới cộng sản. Tuy nhiên làn sóng xét lại này đã gây di hại không ít cho nhiều nước, trong đó có Việt Nam qua vụ án xét lại chống đảng.



Kế hoạch gài bẫy

Năm 1967 đảng cộng sản Việt Nam đứng đầu là Lê Duẩn bắt đầu chiến dịch thanh trừng lớn nhất trong lịch sử đảng của nước này. Từ Bộ Ngoại giao cho tới Văn hóa, Quốc phòng hàng loạt cán bộ cao cấp bị bắt. Nguyên Ngoại trưởng Ung Văn Khiêm của Ngoại giao, Thứ trưởng Lê Liêm của Bộ Văn hóa. Cùng với Thứ trưởng Quốc phòng Nguyễn Văn Vịnh, Chánh Văn phòng Bộ Quốc phòng Đại tá Lê Minh Nghĩa, Cục trưởng Cục Tác chiến Đại tá Đỗ Đức Kiên, Cục trưởng Cục II Đại tá Lê Trọng Nghĩa, Tổng Biên tập báo Quân đội Nhân dân Hoàng Thế Dũng, cùng với thiếu tướng Đặng Kim Giang lúc ấy đã sang làm thứ trưởng Bộ Nông trường.

Theo lời nhà văn Vũ Thư Hiên kể lại thì chính tướng Giang là người giúp Đại tướng Võ Nguyên Giáp rất tích cực trong chiến thắng Điện Biên Phủ, ông nói:

Thiếu tướng Đặng Kim Giang lúc đó là thứ trưởng Bộ Nông trường. Tướng Giang là người chủ chốt trong việc tổ chức hậu cần của mặt trận Điện Biên Phủ. Lúc bấy giờ Tổng cục trưởng của Cục hậu cần là Trần Văn Ninh nhưng Phó Tổng cục trưởng là Đặng Kim Giang, ông là người đứng ra tổ chức vận chuyển cho mặt trận Điện Biên Phủ. Bây giờ chúng ta ai cũng biết căn bản của chiến thắng là do hậu cần. Nếu tổ chức được hậu cần như thế thì mới tổ chức được trận đánh Điện Biên Phủ.

Nhà văn Vũ Thư Hiên cùng cha là ông Vũ Đình Huỳnh, nguyên bí thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng là nạn nhân của vụ án này. Kể lại việc cha mình hoạt động trước khi bị bắt vào ngày 18-10-1967, nhà văn Vũ Thư Hiên nói:

Ông cụ tôi lúc bấy giờ do việc khó chịu với chủ trương của đảng nên từ chỗ làm bí thư cho ông Hồ Chí Minh ông cụ tôi thôi không làm nữa và ông Nguyễn Lương Bằng mời ông cụ tôi về Ban Kiểm tra Trung ương Đảng. Trong lúc làm cho Ban Kiểm tra Trung ương Đảng ông cụ tôi tìm ra các tội lỗi gì đó của một số nhân vật cấp cao nên nói với ông Nguyễn Lương Bằng. Tôi được nghe câu chuyện này do hai ông ngồi nói chuyện với nhau. Ông cụ tôi đưa ra ý kiến công khai là anh đã cầm danh thiếp của Đảng, giữ cái sự trong sáng của đảng thì anh phải làm. Thế nhưng ông Bằng vốn là người nhút nhát và núp sau ý thức tổ chức giống như những người nhút nhát khác vào lúc ấy cho nên không dám đưa ra. Ông cụ tôi bảo nếu chúng ta làm cái việc kiểm tra mà không làm xong thì tôi về hưu.



Những người cộng sản lưu vong

Phó bí thư thành ủy Hà Nội Trần Minh Việt, cùng với Phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học nhà nước Bùi Công Trừng cùng nằm trong danh sách thanh trừng này. Ông Nguyễn Minh Cần, lúc ấy đang học trường Đảng tại Liên Xô, cái nôi của Chủ nghĩa Xét lại đã quyết định ở lại cùng với hơn 40 người khác:

Năm 1962 tôi là Ủy viên Thường vụ Thành ủy Hà Nội và là Phó chủ tịch Ủy ban hành chính Hà nội, chủ nhiệm báo Thủ đô Hà nội. Năm 1962 tôi sang Liên Xô học ở trường đảng cao cấp của Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô. Tại đó do sự bất đồng về đường lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam vì tôi cũng hay phát biểu phê phán này nọ nên bị lãnh đạo đảng truy bức. Đến tháng 6 năm 1964 thì tôi thoát ly khỏi đảng cộng sản và xin cư trú chính trị ở Liên Xô.

Ông Nguyễn Minh Cần cho biết những người cùng ở lại như ông trong ấy có những cán bộ cao cấp trong quân đội:

Có đại tá Lê Vinh Quốc trước đây tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ, thời kỳ đó anh ta ở sư đoàn 308. Đại tá Lê Minh Quân sau này là phó chính ủy rồi lên chính ủy của quân khu 3 tức là quân khu ở Bắc bộ. Và một người nữa là anh thượng tá Văn Doãn, là tổng biên tập báo Quân Đội Nhân Dân tức là một trong những tờ báo chủ chốt của miền Bắc Việt Nam hồi bấy giờ.

Đại tá Bùi Tín lúc ấy còn làm việc cho báo Quân đội Nhân dân nhớ lại:

Tôi còn nhớ năm 56-57, tôi ở báo Quân đội Nhân dân, thỉnh thoảng lại thấy có ô tô đến và triệu tập rồi bắt đi. Đến tận năm 60-62 vẫn còn bắt bớ. Sau này như ông Hoàng Thế Dũng (Tổng biên tập) cho đến ông Văn Doãn (biên tập) của báo Quân đội cũng bị triệu tập lên,cũng bị bắt giữ. Ông Hoàng Minh Chính cũng bị bắt giữ. Bắt giữ này đều là do ban bảo vệ đảng và ban bảo vệ của quân đội. Trong quân đội có Cục bảo vệ chính trị thì chính Cục này đã triệu tập. Triệu tập rồi đem đi mất để mà lấy khẩu cung.

Dĩ nhiên người nổi tiếng nhất trong vụ án xét lại chống đảng là ông Hoàng Minh Chính là điểm nhắm trước tiên. Ngày 27-7-1967, Hoàng Minh Chính bị bắt. Bà Lê Hồng Ngọc, vợ ông kể lại:

Hồi đó tôi đang đi công tác ở tận Hưng Yên. Tôi về nhà thì nghe nói là anh ấy bị bắt rồi. Tôi chỉ biết thế thôi còn quá trình anh ấy bị bắt thì tôi cũng không ngờ là đảng bắt vì tôi vẫn tin tưởng chỉ là phát biểu quan điểm thôi chứ có gì đâu mà bắt? Trước đó tôi vẫn còn gặp ông Lê Đức Thọ mà. Đôi lần tôi cũng có nói với ông Thọ là những chuyện đó anh phải chia công tác cho anh Chính đi chứ để anh Chính như thế mãi là không được đâu. Ông Thọ còn hứa với tôi là "Được, tôi sẽ nghiên cứu. Cô cứ yên tâm đi”. Nói như thế hôm trước hôm sau bắt luôn.

Khủng bố trắng

Không khí chính trị Hà Nội lúc ấy không khác gì lò thuốc súng, công an chìm trên mọi ngả đường và trong quân đội an ninh hoạt động cũng không khác mấy. Người ta tự dò xét xem có phải ai đó dính líu tới vụ án xét lại chống đảng hay không và liệu rồi đây có một vụ đảo chánh nào sẽ diễn ra ngay trong lòng thủ đô Hà Nội?

Không có một cuộc đảo chánh hay phản cách mạng nào nổ ra vì sự thật sau nhiều năm chứng minh rằng không ai trong những người bị bắt có âm mưu thay đổi thể chế chính trị mà chính họ là một thành viên trong đó. Những người bị bắt, bị kết tội theo sự tưởng tượng của Lê Đức Thọ là theo chủ nghĩa xét lại để chống đảng.

Theo nhà báo Huy Đức trong tác phẩm Bên thắng cuộc ghi lại thì ông Nguyễn Kiến Giang, giám đốc nhà xuất bản Sự Thật, bị bắt giam sáu năm và quản chế ba năm cho biết cho đến tận bây giờ ông cũng không biết là mình có tội gì. Ông than thở rằng người ta bảo ông phản động, tay sai nước ngoài nhưng trên thực tế ông bị giam ở xà lim mấy năm, thêm mấy năm quản chế, khoảng gần mười năm, cho đến khi trở về Hà Nội với tư cách là một người công dân, ông cũng không biết là mình có tội gì!

Những người bị bắt hoàn toàn không chống đảng, họ chỉ chống lại ý tưởng chủ chiến của Mao Trạch Đông mà nhóm thân Tàu đang hết lòng cổ vũ. Những người bị kết án, bị bắt nằm trong kế hoạch của Lê Duẩn, Lê Đức Thọ và Nguyễn Chí Thanh và kế hoạch này đã mở đầu cho một cuộc chiến khác khiến 3 triệu người Việt Nam đã bỏ mình trong hai chục năm chiến tranh đẫm máu cho tới năm 1975 mới chấm dứt.



Đừng kêu oan cho người khác

Chiến tranh Việt Nam chấm dứt nhưng cuộc chiến trong lòng những người bị bắt, bị lưu lạc tha phương trong vụ án xét lại chống đảng vẫn không chấm dứt. Trong lòng họ còn rất nhiều điều cần giải tỏa và cho tới nay, năm 2013, đã 46 năm trôi qua nhưng vẫn chưa thấy ai trong chính quyền lên tiếng gợi ý về một cuộc điều tra sâu rộng nhằm đưa vụ án này ra ánh sáng công luận.

Có lẽ vụ bắt giữ ông Lê Hồng Hà đã làm cho những đảng viên cộng sản hôm nay vẫn lấy đó làm tấm gương cảnh báo về sự nguy hiểm nếu đề nghị đem vụ án này ra ánh sáng. Ông Lê Hồng Hà, một nạn nhân khác của vụ án xét lại chống đảng bị bắt vì muốn Trung ương xét lại vụ án oan khuất này kể:

Sau khi tôi đòi thanh minh cho cái vụ ấy thì một số các người lãnh đạo lúc bấy giờ như Lê Đức Anh ...tức tối bởi vì thanh minh như thế là tôi muốn phê phán cái sự lãnh đạo của trung ương trước đó là sai. Họ tức tối nên khai trừ tôi và ông Nguyễn Trung Thành. Họ bịa tạo ra một việc là cái tham luận của ông Võ Văn Kiệt ở hội nghị bộ chính trị, nó chẳng phải là tài liệu tối mật gì cả mà dựng lên đấy là tài liệu tối mật.

“Ông Hồng Hà có liên quan đến tài liệu tối mật ấy.” Lúc bấy giờ tôi đã về hưu rồi. Nó lấy lý do đấy là tài liệu tối mật và tôi có liên quan đến tài liệu ấy. Họ khép mình vào tội vi phạm vào bí mật nhà nước. Họ lấy lý do ấy họ xử tù tôi 2 năm.

Lúc bấy giờ một số cán bộ lâu năm, lão thành cũng thừa nhận với tôi là đấy không phải là bí mật gì cả vì nếu là tối mật thì phải có những nội dung dính đến các vấn đề mà pháp lệnh nhà nước qui định. Đằng này chỉ là bản tham luận phát biểu của thủ tướng Võ Văn Kiệt trong hội nghị Bộ chính trị thôi. Nó không có liên quan gì đến các bí mật của nhà nước cả.



Cái giá của sự hối hận

Ông Lê Hồng Hà là một cán bộ công an cao cấp lúc ấy là Vụ trưởng Vụ Tổng hợp thuộc Bộ công an. Năm 1967 khi xảy ra vụ án xét lại chống đảng thì ông không có trách nhiệm điều tra hay phá vụ án này. Lúc ấy ông chỉ làm nhiệm vụ tổng hợp của Bộ công an, tuy không tham gia phá án nhưng ông biết diễn biến của nó.

Theo ông Lê Hồng Hà kể với chúng tôi thì thời gian sau này vào năm 1993, ông Nguyễn Trung Thành, Vụ trưởng Vụ Bảo vệ đảng của Ban Tổ chức Trung Ương nhận thấy sự oan ức của những người bị bắt và cảm thấy hối hận vì đã im lặng nên đã tới gặp ông Lê Hồng Hà và bàn bạc nên đem vụ này ra Trung ương để cứu xét lại cho các nạn nhân bị bắt, tuy nhiên Lê Đức Thọ đã cương quyết không chấp nhận. Ông Lê Hồng Hà kể:

Ông Lê Đức Thọ lúc đó là Trưởng ban Tổ chức Trung ương cùng với một số người coi như là đường lối của đảng đã định ra như thế mà anh lại khác ý kiến, anh không đồng ý, như thế anh có phần sai rồi. Và cái sai ấy là anh giữ quan điểm của anh khác với trung ương mà anh lại đi phổ biến, nói với nhiều người khác như thế là anh phạm pháp. Như thế là chống đảng. Và chống đảng thì tức là coi như phạm pháp.

Vụ án xét lại chống đảng không chỉ xảy ra trong giới chính trị và quân đội mà còn lan ra báo chí và các nhà văn. Trong số người bị bắt có Vũ Thư Hiên và Bùi Ngọc Tấn. Vũ Thư Hiên là con của Vũ Đình Huỳnh, bị bắt vì cha ông là người có dính líu xa gần với những người khác nhưng với Vũ Thư Hiên thì hoàn toàn bất ngờ, ông chỉ là một biên tập viên của Báo ảnh Việt Nam, do yêu mến văn chương Liên Xô và ảnh hưởng nền văn hóa ấy sau khi từ Moskva về nước.

Tôi bị bắt ngày 24 tháng 12 năm 1967 qua các trại giam như Hỏa Lò, trại quân pháp Bất Bạt, trại Tân Lập, trại Phong Quang tức là có cả nhà tù và trại cải tạo. Tới năm 1976 tôi là người cuối cùng của Vụ án xét lại chống Đảng được ra khỏi nhà tù.



Nhà văn ư? Anh bị bắt!

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn, tác giả của Chuyện kể năm 2.000, cũng là một nạn nhân trong vụ bắt bớ này kể:

Tôi được nghe một anh bạn tôi cũng làm sếp được đi nghe phổ biến thông báo số hai của Lê Đức Thọ về vụ bắt bớ. Trong thông báo có câu mà tôi đã đưa vào tường trình năm 2002 “Bọn chúng từ bất mãn cá nhân đi đến bất mãn đối với đảng, đối với chế độ. Chúng nó ngưu tầm ngưu, mã tầm mã”. Như vậy là có tổ chức mà không có tổ chức. Không có tổ chức lại hóa ra có tổ chức. Tinh vi lắm nhưng không che được mắt nhân dân đâu. Cái câu đấy khiến cho cái đám cao cấp ấy họ nói thì cũng sợ người rồi. Thế nhưng bọn tôi thì cũng gay go rồi.

Khác hẳn với thông báo số hai của Lê Đức Thọ những người bị bắt đều biết rõ mục đích của việc thanh trừng này, nhà văn Vũ Thư Hiên kể:

Căn cứ vào những cuộc hỏi cung thì rõ ràng rằng một trong những mục tiêu lớn là hạ bệ tướng Võ Nguyên Giáp. Ngay cả tôi chẳng liên quan gì tới ông Giáp nhưng cũng bị hỏi cung hàng tháng trời về chuyện tôi có nghe thấy những người nào tới nhà như ông Nguyễn Lương Bằng hay ông Đặng Kim Giang…các ông ấy có ai đến nói về chuyện Võ Nguyên Giáp thế này thế kia không?

Thật sự ông Giáp không có biểu hiện gì về cái gọi là chống Đảng cả. Ông ấy hình như chỉ có vài lời phát biểu không đồng tình với chủ trương chống lại xu hướng cùng tồn tại hòa bình của Khrushchyov và chống lại việc sùng bái cá nhân. Võ Nguyên Giáp có thể nói với những người gần gụi với ông ấy nên cái tin này lan ra chứ thực sự ông Giáp không hề quan hệ trực tiếp với ông cụ tôi hay ông Đặng Kim Giang trong thời gian đó.

Nếu nhà văn Vũ Thư Hiên bị bắt vì cha thì nhà văn Bùi Ngọc Tấn bị bắt vì một lý do hết sức phi lý: vì ông ở Hải Phòng! Nhà văn kể:

Nếu tôi ở Hà Nội thì tôi đã không bị bắt. Còn bắt tôi là ông Trần Đông là vì ông muốn lấy tôi làm bậc thang để ông đi lên. Về sau ông lên được chức thứ trưởng bộ Công an chứ lúc ấy ông đang làm giám đốc công an Hải phòng.

Tôi bị giam ở 176 Trần Phú, trại tạm giam Hải phòng ở khu biệt giam. Giam xà lim khoảng chừng một năm thì họ chuyển tôi sang phòng giam chung ở bên 175 Trần Phú. Đến mùa xuân năm 70 thì đi trại cải tạo Hàng Bồ với lệnh tập trung cải tạo 3 năm vì tội là “phần tử nguy hiểm cho cách mạng chứ không phải tuyên truyền phản cách mạng” nữa. Sau 16 tháng 4 năm 72 tức là sau khi B52 đánh trở lại thì họ chuyển tôi lên trại Vĩnh Quang thuộc Vĩnh Phú. Đến tháng 4 năm 73 thì được tha. Tức là chưa đến 5 năm nhưng mà tôi đếm 5 cái tết.

Những cuộc bắt bớ này cho thấy vụ án xét lại chống đảng được phát động quy mô và xuyên suốt tới địa phương chứ không khoanh vùng ở các vị trí quan trọng. Tuy nhiên khi việc chú ý tới địa phương chỉ mới manh nha thì phe thân Trung Quốc phải lo đối phó với chuyện khác quan trọng hơn khi thời cơ nổi dậy tại Miền Nam đã chín muồi, bắt đầu một cuộc chiến tranh mà miền Bắc gọi là chiến tranh chống Mỹ.



Che mắt lịch sử

Trong tập hai của Bên Thắng Cuộc mang tên Quyền Bính, trong chương “Tướng Giáp”, Huy Đức ghi lại lời kể của Trần Quỳnh, trợ lý Lê Duẩn nói về thành phần bị bắt thời gian này: “Những người không tán thành đường lối chống xét lại của Đảng, một số cán bộ cao cấp và trung cấp theo học ở trường Đảng cao cấp Liên Xô và trường quân sự cao cấp Liên Xô bàn kế hoạch chống lại đường lối của Đảng. Họ lập một nhóm vận động thành lập một tổ chức lấy việc thay đổi Bộ Chính trị làm mục tiêu. Họ nhắm vào những người không đồng tình với Nghị quyết 9, trước hết là những sĩ quan cao cấp trong quân đội và những uỷ viên trong Trung ương”.

Thật ra đây chỉ là một mối nhỏ trong guồng chỉ rất lớn của vụ án chính trị nổi tiếng này. Những người bị bắt, bị lưu đày sau gần 50 năm vẫn chưa bao giờ được chính quyền chứng minh hành vi kết tội của họ đối với người bị bắt. Hầu hết nạn nhân của vụ án là người yêu chuộng sự đổi mới hợp lý khi chủ nghĩa tôn sùng cá nhân bị chỉ trích tại Liên Xô cũng chính là lúc Lê Duẩn, Lê Đức Thọ muốn củng cố địa vị của họ bằng sức mạnh theo kiểu Mao Trạch Đông chủ trương.



Nghị quyết 9, sự kết giao nguy hiểm

Nghị quyết 9 cho thấy khuynh hướng theo Trung Quốc và ai không đồng tình với khuynh hướng này thì bị thanh trừng. Quyền lực sẽ bị lu mờ nếu hào quang của Tướng Giáp vẫn còn tỏa sáng trên sân khấu chính trị Việt Nam khiến bằng mọi cách phe Lê Duẩn, Lê Đức Thọ phải thực hiện cho được sự ám toán ông qua một vụ án chính trị là cách hay nhất.

Ông Hoàng Minh Chính bị bắt đầu tiên, vợ của ông là bà Lê Hồng Ngọc kể lại nỗi gian truân trong thời gian ấy:

-Đang làm người lãnh đạo tập đoàn thanh niên được đảng tín  nhiệm đưa đi học nước ngoài rồi về sẽ cho chức nọ chức kia. Anh tưởng là anh nói như vậy để giúp đảng nhưng cuối cùng cũng không giải quyết được gì hết mà còn bị tù tội. Thời kỳ đó gian khổ lắm vì mang trên đầu các chữ phản: “phản Tổ quốc, phản nhân dân, phản đảng”. Gia đình chúng tôi ở bên ngoài thì bị mọi người xa lánh, không ai đến, không ai dám hỏi thăm. Bản thân anh thì hoàn toàn là biệt lập vì cái tội như thế nên cũng nhiều nỗi đau khổ lắm.



Những người vợ

Là vợ của một người thân cận với Chủ tịch Hồ Chí Minh bà Phạm Thị Tề không thể chịu đựng nỗi sự im lặng của người từng được gia đình mình phục vụ. Nhà văn Vũ Thư Hiên kể lại thái độ gan góc của mẹ mình khi không chịu vào Phủ Chủ tịch đề nhờ sự can thiệp của ông Hồ Chí Minh:

-Không! Mặc dù bà cụ tôi là người gần gụi ông Hồ Chí Minh ngày xưa. Lúc ông ấy mới về Hà Nội thì ông ấy rất ốm. Ông ấy lúc bấy giờ bị lao phổi, ngoài thuốc chữa thì bà cụ tôi phải nấu thức ăn bổ dưỡng để cận vệ mang vào cho ông ấy. Thế nhưng khi đã bắt ông cụ tôi thì bà bảo cái người đó không còn tin được nữa thế nên bà cụ tôi không liên hệ. Sau này tôi gặp ông Hoàng Quốc Thịnh, lúc ấy là Bộ trưởng Ngoại thương ông ấy nói có một lần ông ấy vào báo cáo với ông Hồ Chí Minh vào giai đoạn ông cụ tôi bị bắt, ông hỏi là tai sao lại bắt những người như anh Huỳnh, cả cuộc đời theo cách mạng như thế? Thì ông ấy (HCM) tỏ vẻ ngạc nhiên hay đóng kịch như là: Tại sao bắt anh Huỳnh? Sao lại bắt?...đại khái như thế? Đấy là lời ông Hoàng Quốc Thịnh nói với tôi.

Những người đàn bà không bị bắt còn khổ sở hơn chồng của họ. Bà Lê Hồng Ngọc kể lại chuyện ba người đàn bà vợ của các ông Hoàng Minh Chính, Vũ Đình Huỳnh và Đặng Kim Giang:

-Gia đình rất là gian nan khổ sở. Về mặt kinh tế thì không nói cũng biết rồi, vật chất có gì ngoài củ sắn đâu cho nên tất cả những tem phiếu có được đều giữ lại bù đắp cho anh ấy. Thăm nuôi tiếp tế thì rất lâu mới được đi một lần. Trong tình cảnh ấy tôi nghĩ là rất nhiều chị em như tôi như bà Vũ Đình Huỳnh, bà Đặng Kim Giang. Ba chị em hay đi với nhau lắm. Chúng tôi lên tận trên trại Bất Bạt, trên ấy xa xôi lắm. Họ đánh kẻng mới được đi vào, vào thăm mấy tiếng thì phải đi về.

Theo thư gửi cho nhiều cơ quan chính quyền vào năm 1994, bà Phạm thị Tề nhắc lại sau Đại hội VI củaĐảng, chồng bà là ông Vũ Đình Huỳnh lúc ấy đã được thả ra, có thư gửi tới nguyên Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Văn Linh, một lần nữa yêu cầu ông Linh đưa vụ này ra ánh sáng. Thế nhưng không riêng gì ông Huỳnh mà tất cả những người bị bắt hay đã chết, yêu cầu chính đáng ấy không bao giờ được giải quyết.



Sự im lặng đồng lõa

Ông Lê Hồng Hà một trong những nạn nhân của vụ án cho biết:

-Những năm sau này, từ năm 90-91 trở đi họ bắt đầu thấy một số các vấn đề không thỏa đáng. Thế thì họ có giải quyết theo kiểu những người bị tù nhiều năm thì tha rồi. Một số các người bị thiệt hại quyền lợi thì được cho khôi phục lại quyền lợi. Ví dụ một số những ông như Lê Trọng Nghĩa, Hoàng Minh Chính thì người ta khôi phục lại mức lương khá khá hơn thôi. Tuy nhiên họ cũng không tuyên bố là sửa sai. Họ sửa nhưng không tuyên bố.

Ông Hoàng Minh Chính, người trực tiếp mang tinh thần xét lại từ Liên Xô về Việt Nam xứng đáng là người tiên phong vì đã đề nghị đảng cộng sản Việt Nam thay đổi phương hướng trong chính sách của mình nhưng ông đã phải trả một giá rất đắt cho ý tưởng này. Theo lời thuật lại của vợ ông là bà Lê Hồng Ngọc, tên thật Nguyễn Thị Thanh Yến cho biết chồng bà gia nhập đảng cộng sản rất sớm, vào năm 19 tuổi. Người ký giấy giới thiệu cho ông vào đảng là Lê Đức Thọ và cũng chính ông này ký lệnh bắt giam Hoàng Minh Chính vào năm 1967.

Ông bị tù cả thảy 11 năm và 9 năm quản chế, khởi đầu từ 1967 kéo dài đến năm 1990.

Hoàng Minh Chính mất ngày 7 tháng 2 năm 2008. Nói về vụ yêu cầu xét xử những bản án oan sai, trước đó trong một lần trả lời Đài Á Châu Tự Do ông nói:

-Từ trước tới nay tất cả những cái đơn kiện của công dân thực ra họ có trả lời đâu? Mà ở trong nước người ta thường dọi là “kiện củ khoai”. Vấn đề này khi kiện thì đối với phương diện pháp lý nói lên rằng có những vu khống như thế và tôi yêu cầu tòa án Việt Nam phải đưa vụ án này ra xét xử. Đấy là nguyên tắc về pháp lý nhưng tin tưởng thì tôi không hề tin tưởng bởi vì từ trước tới nay họ đều im lặng hết.

Vụ án xét lại chống đảng có thể là vụ án chính trị cuối cùng và lớn nhất của đảng Cộng sản Việt Nam tuy nhiên nó sẽ chẳng bao giờ biến mất hay lãng quên bởi sự lẫn trốn trách nhiệm của những nhân vật cao cấp nhất trong đảng qua nhiều đời Tổng bí thư. Minh oan và trả lại sự thật cho các nạn nhân của vụ án là việc làm hoàn toàn có lợi cho đảng.

Mặc dù nếu công khai những sự kiện này ra thì rất nhiều khuôn mặt đang đứng phía sau hậu trường chính trị khó thoát khỏi sự truy cứu trách nhiệm trước lịch sử dân tộc, tuy nhiên việc làm này sẽ giúp Đảng cộng sản được tiếng là dũng cảm, dám nhận trách nhiệm trước dân chúng để bắt đầu một giai đoạn mới hòa nhập vào dòng chảy dân chủ thật sự với  thế giới.





Mặc Lâm gửi ngày 24-10-13


Tiêu chuẩn đánh giá Triglyceride máu
Hiệp hội tim mạch Hoa Kỳ đã đưa ra các tiêu chuẩn đối với nồng độ triglyceride trong máu:[5]
Nồng độ mg/dL
Nồng độ mmol/L
Giải thích
<150
<1.69
Bình thường, nguy cơ thấp
150-199
1.70-2.25
Bấp bênh cao
200-499
2.26-5.65
Cao
>500
>5.65
Rất cao: Nguy cơ cao
Giảm nồng độ triglyceride
Chế độ dinh dưỡng giàu carbohydrate, với lượng carbohydrate chiếm hơn 60% tổng lượng calo, có thể làm tăng mức triglyceride.[5]Có một mối tương quan mạnh mẽ giữa mức triglyceride và lượng carbohydrate khi khảo sát đối với những người có chỉ số khối cơ thể(BMI) cao hơn 28+ và kháng insulin (thường là những người thừa cân và béo phì).[6]
Có bằng chứng cho việc tiêu thụ carbohydrate làm tăng chỉ số đường huyết, gây ra dư thừa insulin và làm tăng mức trilyceride ở phụ nữ.[7] Những thay đổi bất lợi liên quan đến lượng tiêu thụ carbohydrate, bao gồm mức glyceride tăng, là những yếu tố rất nguy hiểm cho tim mạch của phụ nữ hơn là ở nam giới.[8]
Tập thể dục thường xuyên, chế độ dinh dưỡng giàu axít béo omega-3 có trong , dầu hạt lanh, và các nguồn khác, có thể làm giảm nồng độ triglyceride trong máu. Khuyến nghị ở Hoa Kỳ là nên ăn 3 gram mỗi ngày các loại dầu này, còn tại châu Âu khuyên dùng 2 gram. Tuy nhiên, lượng omega-3 tiêu thụ phải cân bằng với lượng axit béo omega-6 với một tỷ lệ ω-6/ω-3=1:01-04:01 (tức là không quá 4 gram omega-6 cho mỗi 1 omega-3).[9][10]
Carnitine và fibrate có khả năng làm giảm mức triglyceride trong máu.[11][12] Sử dụng rượu nặng có thể làm tăng mức triglycerid


BÊN KIA SÔNG ĐUỐNG
Hoàng Cầm
Em ơi! Buồn làm chi
Anh đưa em về sông Đuống
Ngày xưa cát trắng phẳng lì
Sông Đuống trôi đi
Một dòng lấp loáng
Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ
Xanh xanh bãi mía bờ dâu
Ngô khoai biêng biếc
Đứng bên này sông sao nhớ tiếc
Sao xót xa như rụng bàn tay
Bên kia sông Đuống
Quê hương ta lúa nếp thơm nồng
Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong
Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp
Quê hương ta từ ngày khủng khiếp
Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn
Ruộng ta khô
Nhà ta cháy
Chó ngộ một đàn
Lưỡi dài lê sắc máu
Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang
Mẹ con đàn lợn âm dương
Chia lìa đôi ngả
Đám cưới chuột tưng bừng rộn rã
Bây giờ tan tác về đâu ?
Ai về bên kia sông Đuống
Cho ta gửi tấm the đen
Mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên
Những hội hè đình đám
Trên núi Thiên Thai
Trong chùa Bút Tháp
Giữa huyện Lang Tài
Gửi về may áo cho ai
Chuông chùa văng vẳng nay người ở đâu
Những nàng môi cắn chỉ quết trầu
Những cụ già phơ phơ tóc trắng
Những em sột soạt quần nâu
Bây giờ đi đâu? Về đâu?


Ai về bên kia sông Đuống
Có nhớ từng khuôn mặt búp sen
Những cô hàng xén răng đen
Cười như mùa thu tỏa nắng
Chợ Hồ, chợ Sủi người đua chen
Bãi Trầm Chỉ người giăng tơ nghẽn lối
Những nàng dệt sợi
Đi bán lụa mầu
Những người thợ nhuộm
Đồng Tỉnh, Huê Cầu
Bây giờ đi đâu? Về đâu?
Bên kia sông Đuống
Mẹ già nua còm cõi gánh hàng rong
Dăm miếng cau khô
Mấy lọ phẩm hồng
Vài thếp giấy dầm hoen sương sớm
Chợt lũ quỷ mắt xanh trừng trợn
Khua giầy đinh đạp gẫy quán gầy teo
Xì xồ cướp bóc
Tan phiên chợ nghèo
Lá đa lác đác trước lều
Vài ba vết máu loang chiều mùa đông
Chưa bán được một đồng
Mẹ già lại quẩy gánh hàng rong
Bước cao thấp trên bờ tre hun hút
Có con cò trắng bay vùn vụt
Lướt ngang dòng sông Đuống về đâu?
Mẹ ta lòng đói dạ sầu
Đường trơn mưa lạnh mái đầu bạc phơ
Bên kia sông Đuống
Ta có đàn con thơ
Ngày tranh nhau một bát cháo ngô
Đêm líu díu chui gầm giường tránh đạn
Lấy mẹt quây tròn
Tưởng làm tổ ấm
Trong giấc thơ ngây tiếng súng dồn tựa sấm
Ú ớ cơn mê
Thon thót giật mình
Bóng giặc dày vò những nét môi xinh
Đã có đất này chép tội
Chúng ta không biết nguôi hờn
Đêm buông xuống dòng sông Đuống
Con là ai ? -Con ở đâu về ?
Hé một cánh liếp
Con vào đây bốn phía tường che
Lửa đèn leo lét soi tình mẹ
Khuôn mặt bừng lên như dựng giăng
Ngậm ngùi tóc trắng đang thầm kể
Những chuyện muôn đời không nói năng
Đêm đi sâu quá lòng sông Đuống
Bộ đội bên sông đã trở về
Con bắt đầu xuất kích
Trại giặc bắt đầu run trong sương
Dao loé giữa chợ
Gậy lùa cuối thôn
Lúa chín vàng hoe giặc mất hồn
Ăn không ngon
Ngủ không yên
Đứng không vững
Chúng mày phát điên
Quay cuồng như xéo trên đống lửa
Mà cánh đồng ta còn chan chứa
Bao nhiêu nắng đẹp mùa xuân
Gió đưa tiếng hát về gần
Thợ cấy đánh giặc dân quân cày bừa
Tiếng bà ru cháu xế trưa
Chang chang nắng hạ võng đưa rầu rầu
“À ơi… cha con chết trận từ lâu
Con càng khôn lớn càng sâu mối thù”
Tiếng em cắt cỏ hôm xưa
Hiu hiu gió rét mịt mù mưa bay
“Thân ta hoen ố vì mày
Hờn ta cùng với đất này dài lâu…”
Em ơi! Đừng hát nữa! Lòng anh đau
Mẹ ơi! Đừng khóc nữa! Dạ con sầu
Cánh đồng im phăng phắc
Để con đi giết giặc
Lấy máu nó rửa thù này
Lấy súng nó cầm chắc tay
Mỗi đêm một lần mở hội
Trong lòng con chim múa hoa cười
Vì nắng sắp lên rồi
Chân trời đã tỏ
Sông Đuống cuồn cuộn trôi
Để nó cuốn phăng ra bể
Bao nhiêu đồn giặc tơi bời
Bao nhiêu nước mắt
Bao nhiêu mồ hôi
Bao nhiêu bóng tối
Bao nhiêu nỗi đời
Bao giờ về bên kia sông Đuống
Anh lại tìm em
Em mặc yếm thắm
Em thắt lụa hồng
Em đi trảy hội non sông
Cười mê ánh sáng muôn lòng xuân xanh.


(Việt Bắc, tháng 4-1948)

·                     
             Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi
 Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
 Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
 Mường Lát hoa về trong đêm hơi
 Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
 Heo hút cồn mây súng ngửi trời
 Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống
 Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi
 Anh bạn dãi dầu không bước nữa
 Gục lên súng mũ bỏ quên đời
 Chiều chiều oai linh thác gầm thét
 Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người
  Mai Châu mùa em thơm nếp xôi

 Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
 Kìa em xiêm áo tự bao giờ
 Khèn lên man điệu nàng e ấp
 Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ
 Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
 Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
 Có nhớ dáng người trên độc mộc
 Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa
 Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
 Quân xanh màu lá dữ oai hùm
 Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
 Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
 Rải rác biên cương mồ viễn xứ
 Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
 Áo bào thay chiếu anh về đất
 Sông Mã gầm lên khúc độc hành
 Tây Tiến người đi không hẹn ước
 Đường lên thăm thẳm một chia phôi
 Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy
 Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi


(Phù Lưu Chanh 1948- Quang Dũng)





Thứ Bảy, 7 tháng 10, 2017

Những số liệu thú vị và hữu ích về cơ thể người
1.Axit trong dạ dày đủ mạnh để hòa tan chiếc dao cạo
 2.Mạch máu trong khắp cơ thể nếu trải ra sẽ dài khoảng 60.000 dặm.
3.Chúng ta rụng trung bình 40-100 sợi tóc mỗi ngày.
4.Đường kính tóc của phụ nữ chỉ bằng ½ đương kính tóc nam giới.
5.Mỗi sợi tóc có tuổi thọ từ 3-7 năm.
6.Trong cuộc đời mỗi con người sản sinh số lượng tóc ,nếu đo sẽ dài khoảng 450dặm(khoang724km).
7.Trên mỗi inch da( 1 inch = 2.54cm) có khoảng 32 triệu vi khuẩn.
8.Có khoảng 1 nghìn tỉ vi khuẩn ở mỗi bàn chân.
9.Khoảng 300 nghìn tỉ tế bào được sinh ra mỗi ngày và khoảng 300 tỉ tế bào chết đi mỗi phút.
10.Răng là bộ phận duy nhất trên cơ thể người không thể tự hồi phục. Răng bắt đầu mọc 6 tháng trước khi bạn được sinh ra.
11.Trung bình mỗi phút thận lọc khoảng 1.3 lit’máu.
12.Đàn ông sản xuất khoảng 10 triệu “
tinh binh” mỗi ngày.
13.Trung bình cơ thể phụ nữ sản sinh nửa triệu trứng trong cuộc đời.
14.Tế bào lớn nhất trong cơ thể người là trứng của phụ nữ.Ngược lại tinh trùng là tế bào nhỏ nhất.
15.Luồng khí khi hắt hơi có thể di chuyển với vận tốc 100 dặm/giơ
16.Một người trung bình uống khoảng 16.000 gallon nước (=72.640
lit’nước) trong suốt cuộc đời.
17. Vân tay của em bé được hình thành sau 3 tháng đầu của thai kỳ.
18.Năng lượng cần cho não hoạt động tương đương với năng lượng thắp sáng bóng đèn 10W.
19.Trẻ em sinh ra có 300 chiếc xương,nhưng khi trưởng thành con số này giảm còn 206 chiếc.
20.Đến khoảng 60 tuổi,phần lớn chúng ta sẽ mất đi một nửa chồi vị giác.
21. Trong suốt cuộc đời, con người sản xuất lượng nước bọt đủ để lấp đầy 2 hồ bơi.
22.Đầu người có khoảng 100.000 sợi tóc.
23.Tốc độ truyền xung thần kinh từ não khoảng 170 dặm/giơ
24.Cơ thể người trưởng thành chứa xấp xỉ 37,2 nghìn tỉ
(trillion=tn)tế bào.
25.Có gần 46 dặm dây thần kinh trong cơ thể người trưởng thành.
26.Móng tay phát triển nhanh gấp 4 lần móng chân.Ngón giữa mọc với tốc độ nhanh nhất.
27.Lưỡi là cơ khỏe nhất ,xương hàm là xương khỏe nhất.
28.Mỗi một người sẽ có một khứu giác riêng,trừ trường hợp các các cặp song sinh đồng nhất.
29. Mọi trẻ em đều mù mầu lúc mới sinh,chúng chỉ nhìn thấy 2 mầu đen & trắng.
30.Cơ thể đòi hỏi cung cấp 1000-1500 calo mỗi ngày chỉ để phục vụ cho các hoạt động giản đơn như thở,ngủ,ăn.
31.Để mọc lại móng chân hay móng tay từ gốc tới đỉnh, phải mất 6 tháng.
32.Não người trưởng thành có xấp xỉ 100 tỉ (billion=bn)tế bào(neuron) để gửi và nhận thông tin đi khắp cơ thể* .
33.Người bình thường có thể sống sót trong vòng 20 ngày nếu không ăn,nhưng chỉ có thể tồn tại trong 2 ngày nếu không uống.
34.Nếu sống đến 70 tuổi, có nghĩa là tim bạn đã đập được 2.5 nghìn tỷ lần.
35.Phần duy nhất trên cơ thể không cần cung cấp máu là giác mạc. Nó lấy oxy trực tiếp từ không khí.
36.Trong 30 phút,cơ thể người bình thường sản sinh 1 lượng nhiệt đủ để đun sôi 2.27l nước.
37.Phổi cần không gian lớn để hô hấp.Tổng bề mặt của lá phổi cũng xấp xỉ kích cỡ một sân tennis.
38.Não người có thể chứa được 3-1000 Terabyte thông tin.Tài liệu lưu trữ của Anh quốc với hơn 900 năm lịch sử cũng chỉ có 70 terabyte
39.Não chỉ chiếm 2% cơ thể nhưng sử dụng tới 20% lượng oxy trong máu .80% của não là nước.Tự bản thân não sẽ không cảm thấy đau.
40.Não sẽ hoạt động linh hoạt về đêm hơn ban ngày.
41.Mũi có khả năng ghi nhớ 50.000 mùi khác nhau.
42.Mắt vẫn giữ nguyên kích thước từ lúc chúng ta được sinh ra , nhưng mũi và tai thì không ngừng phát triển.
43. Phải huy động 13 cơ để cười và 43 cơ để cau mặt.
44.Nhóm máu phổ biến nhất thế giới là nhóm máu O.
45.Người thuận tay phải trung bình sống thọ hơn người thuận tay trái 9 năm.
*Chú thích:
+Có tài liệu nói ở não có khoảng 85 tỉ(bn) neuron.
+Ở vỏ não:
-nam có khoảng 23 tỉ
-nữ có khoảng 19 tỉ
Số tế bào khác nhau ở từng người và thay đổi theo tuổi.


Thứ Sáu, 6 tháng 10, 2017

                              TÌM MỘ LIỆT SĨ
      Năm 1952, anh trai cả của chúng tôi (anh Nguyễn Khắc Chính), cùng đơn vị – tiểu đoàn 432, trung đoàn 238 hành quân vào Nam phần Băc Ninh, làm nhiệm vụ đánh phá các đợt càn quét của giặc Pháp ở vùng này. Trong một trận đánh thuộc vùng Cầu Đào-Ngụ (nay là xã Nhân Thắng, huyện Gia Bình), anh bị thương rồi từ trần.  
     Nhân dân địa phương (làng Ngụ-Nhân Thắng) chôn cất anh.
     Hòa bình lập lại (1954) mẹ tôi và chị dâu Nguyễn Thị Vân đã về làng Ngụ, hỏi thăm tin tức về anh tôi. Ngày đó, mộ anh tôi và mộ các liệt sĩ khác chưa đưa vào Nghĩa trang, nhưng sơ đồ ghi mộ anh tôi thì đã thất lạc…
     Khi các Nhà Ngoại cảm (NNC) bắt đầu giúp tìm mộ liệt sĩ, chị dâu tôi đã liên hệ với một NNC (ông là người ở Hải Dương) nhờ tìm tin tức về phần mộ anh tôi, nhưng không kết quả.
    Gia đình cũng tìm thêm thông tin qua một số đồng đội của anh tôi và vẫn tiếp tục theo đuổi nguồn thông qua các NNC.
    Chúng tôi gặp được nhiều NNC: cô Thạo ở An Dương, Hải Phòng, gặp “cậu” Hài, Kim Động, Hưng Yên, gặp anh Tuấn Hòa Mạc, Hà Nam, gặp “ông” Hằng. Vũ Thư, Thái Bình, “cậu” Nguyện Thanh Miện, Hải Dương, anh Nguyễn Khắc Bẩy Hà Nội, anh Nguyễn Văn Lư Kim Bảng, Hà Nam v.v… Năm 2010, chúng tôi (có cháu Vinh là con duy nhất của Liệt sĩ) tới Đông Tác Hà Nội, nhờ chỉ dẫn áp vong, nhưng không gặp được vong Liệt sĩ hoặc vong người thân của gia đình.
     Dù chưa biết nơi có phần mộ của anh chúng tôi, nhưng hàng năm, tết Nguyên Đán hoặc dịp kỷ niệm ngày Thương binh - Liệt sĩ, người trong gia đình, chị dâu và cháu Vinh vẫn tới Nghĩa trang khu vực Gia Bình - nơi anh tôi đã hy sinh để thăm viếng.
     Người dân và cán bộ địa phương vùng Ngụ cho biết: Liệt sĩ của các thời kỳ chiến tranh (trong đó có Liệt sĩ hy sinh tại địa phương vào tháng 2-1953) đã được quy tập vào các Nghĩa trang lớn của địa phương.
  Vậy anh chúng tôi – Liệt sĩ Nguyễn Khắc Chính đã yên nghỉ ở đâu?
 Nghĩa trang nào có anh, vẫn là một dấu hỏi, chúng tôi chưa có lời đáp…
   Thâm tâm con cháu, các em của Liệt sĩ chưa bao giờ nguôi ngoai việc tìm kiếm mộ của Liệt sĩ.
   
    Gần đây, được biết có tổ chức “Hội Hỗ trợ gia đình liệt sĩ”, chúng tôi đã tìm đến số 8 Nguyễn Tri Phương Hà Nội, gặp người của Văn phòng Hội. Tại đây, các anh nhiệt tình chỉ dẫn chúng tôi làm hồ sơ.Trong hồ sơ quy định cần có giấy xác nhận của đơn vị khi anh tôi hy sinh, giấy xác nhận của chính quyền nơi tòng quân, xác nhận của địa phương đang quản lý chính sách gia đình liệt sĩ v.v…để Hội có dữ liệu giúp tìm kiếm. 
    Nhận các tờ khai hồ sơ, tôi nghĩ rằng anh của mình từ trần đã lâu, đơn vị cũ nay có thể không còn, nơi anh tôi tòng quân lại là từ một cơ quan (khi vào bộ đội, anh là Huyện ủy viên huyện Hữu Lũng, Bắc Giang), còn địa phương tòng quân chỉ là nơi gia đình ngụ cư, không phải ở quê quán, vậy theo cách này, ít hy vọng.  Tuy nhiên, chúng tôi vẫn xúc tiến các thủ tục theo quy định trong phương án của Hội.
    Mặt khác, chúng tôi tiếp tục kiên trì khai thác nguồn tìm kiếm theo  hướng Tâm linh, nhờ sự giúp đỡ của các NNC.
    Dù rằng theo hướng này đã nhiều năm, gia đình chúng tôi chưa thu được kết quả, nhưng trong xã hội ta 20 năm qua, việc tìm mộ Liệt sĩ nhờ sự giúp đỡ của các NNC vẫn liên tục diễn ra, có hàng nghìn kết quả rất cụ thể.  Thực tế này khiến chúng tôi hoàn toàn tin rằng người đã khuất có vong linh. Sự giao lưu âm, dương đã diễn ra ở nhiều nơi trên đất nước ta và việc tìm kiếm hài cốt liệt sĩ bằng ngoại cảm, có kết quả, là sự thật hiển nhiên.
Chúng tôi luôn tin rằng đến một ngày nào đó, vong của thân nhân gia đình chúng tôi sẽ xuất hiện để các NNC nhận biết, giúp chúng tôi tìm thấy phần mộ cụ thể (của Liệt sĩ, anh trai của chúng tôi). 
    Ngày 2 tháng 7-2013, tôi ra Hà Nội, đến Bộ môn Cận Tâm lý thuộc Trung tâm Nghiên cứu tiềm năng con người (TTNCTNCN) ở số 2 ngõ 40, phố Linh Lang, quận Ba Đình. Tại đây, PGS Tiến sĩ Nguyễn Thị Ngọc Quyên, phó chủ nhiệm Bộ môn bố trí cho tôi gặp NNC Nguyễn Văn Lư.
    Về NNC này, chúng tôi đã một lần tiếp xúc tại thôn Đồng Mật, Kim Bảng, Hà Nam. Lần đó, NNC nói rằng có thể tìm được mộ trực tiếp tại Nghĩa trang, nhưng phải là lúc có “duyên” chứ không phải dịp đó.
    Lần này, gặp NNC, chúng tôi hy vọng “duyên” sẽ tới.
    Nhưng một lần nữa, cái duyên lại chưa tới, NNC không đưa ra điều gì cụ thể liên hệ tới phần mộ của anh tôi. NNC nói: Cùng chết với Liệt sĩ có nhiều người, có cả dân quân, du kích… nên khó tìm. Tôi hỏi NNC có thấy vong của anh tôi về không? NNC đáp : Không.
   Tôi cảm ơn NNC Nguyễn Văn Lư rồi tiếp tục lần theo danh sách các NNC đang hợp tác với TTNCTNCN để đăng ký.
    NNC Điềm Thị Thiên Dung  (đường Láng Hà Nội) đã nhận lời giúp đỡ.
    NNC bảo tôi cần đến Nghĩa Trang để được chỉ dẫn. NNC vẽ sơ qua hình dáng kiến trúc chiếc đài thờ Liệt sĩ thường thấy có ở các Nghĩa trang, đánh dấu một vị trí. NNC dặn tôi theo đường ôtô đi từ Hà Nội về hướng Bắc Ninh, tới huyện Gia Bình. Gần một ngã 3, nhìn vào phía trái đường, thấy một nghĩa trang khuất trong nhiều cây cảnh. Ở đó, từ bên trái đường đi vào, sẽ thấy một mương nước nhỏ, còn phía trước Nghĩa trang là một hồ nước lớn, xung quanh cũng có rất nhiều cây cảnh.
    Do đã qua lại vùng Gia Bình nhiều lần, nên tôi nhận ra ngay bản vẽ của NNC là Nghĩa trang Nhân Thắng. 
    Theo lời dặn của NNC, tôi tới Nhân Thắng. Lần đến thư nhất, tôi gọi điện cho NNC. Từ đầu dây bên kia, NNC nói chị đang vướng một đám tang, hãy chờ một lúc. Tôi chờ, nhưng hôm đó chưa nhận được thông tin chi tiết. Tôi trở lại Nhân Thắng lần thứ hai. Lần này, NNC chỉ dẫn cụ thể vị trí ngôi mộ, với các đặc điểm chi tiết dễ nhận ra. Ví dụ, NNC bảo trước mộ liệt sĩ có một cây xanh tốt nhưng có một cành chết khô, tôi đến sát gốc cây, nhìn lên thấy đúng. NNC nói có một thanh niên đội nón cối đến trước mộ. Nhìn quanh không thấy có ai, tôi trả lời NNC, nhưng tôi vừa dứt lời thì có một thanh niên tới trước mộ, nói chuyện với tôi một lúc rồi đi ra.
    Tôi ghi nhận thông tin này của NNC Điềm Thị Thiên Dung, nhưng trong đầu chưa có một sự khẳng định nào…
    Được biết một số người đi tìm mộ qua đường tâm linh, họ đều gặp và tiếp nhận thông tin từ nhiều NNC. Bộ môn Cận Tâm lý cũng đề cập tới việc  “kiểm tra chéo” thông tin từ vài ba NNC.
   Tôi liên hệ tiếp với một NNC nữa, là NNC Phan Thị Bích Hằng.
    Sau vài lần hẹn, NNC Bích Hằng đồng ý gặp. Xem hồ sơ tôi đã đưa, NNC bảo có thể tìm được mộ Liệt sĩ và nói: nhiều trường hợp rất khó, vẫn tìm được. 
    NNC vẽ sơ đồ, chỉ ra rằng ngôi mộ liệt sĩ Chính ở hàng đầu tiên, sát chân Đài Liệt sĩ. Từ đài nhìn xuống, ngôi mộ ở dẫy phía bên phải. Đếm theo hàng ngang, hay hàng dọc của dẫy mộ, thì mộ liệt sĩ vẫn có vị trí 1.
    Điều này trùng hợp với tư liệu của NNC Điềm Thị Thiên Dung. 
   Tôi tiếp tục đi Thái Bình để gặp NNC Vũ Thị Nái (xã Vũ Hội, huyện Vũ Thư). Trong phút tiếp xúc đầu tiên, NNC nói  luôn rằng: “chủ”- chữ dùng gọi tôi - đi tìm mộ, chủ tìm đúng mộ rồi đấy. Tôi hỏi lại thì NNC Vũ Thị Nái vẫn nói “đúng mộ rồi đấy”.
    Ngoài các mối liên hệ trên đây, trong mấy lần tới Nghĩa trang Nhân Thắng. tôi đã 3 lần gọi điện tới một NNC quen biết ở thành phố Hồ Chí Minh (nhằm đối chiếu thêm qua thông tin của ông này). Trước đó, tôi cũng đã nhờ NNC Nguyễn Khắc Bẩy (Trung Tự, Đống Đa, Hà Nội). NNC khẳng định mộ Liệt sĩ ở Nghĩa trang Nhân Thắng, ông bảo “đừng tìm ở nơi nào khác nữa”, nhưng ông cũng chưa chỉ ra được chính xác ngôi mộ cụ thể…
    Tới lúc này, tôi vẫn muốn có thêm thông tin và được bạn bè khuyên nên tìm nguồn thông tin nữa, qua “áp vong” trực tiếp.
    Hy vọng qua áp vong, tôi có thể sàng lọc thông tin một lần nữa (qua chính Liệt sĩ). Tôi đã đi Hòa Bình, gặp môt NNC đã được nhiều ngươi nhờ cậy “áp vong”.
    Chủ nhật 14-7-2013 (7 tháng 6 Quý Tỵ), tôi  tới thôn Bùi Trám, xã Hòa Sơn, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình, nhờ NNC Hoàng Thị Thiêm thực hiện áp vong (NNC này đã được TTNCTNCN đưa đi Nhật để ở đó “nghiên cứu con mắt thứ 3” của NNC).
    Nghe nói thông thường đi áp vong, phải đi 5-7 người, trong đó có nam nữ thanh niên trẻ tuổi để vong dễ nhập. Từ Sài Gòn ra, tôi không có điều kiện đó, chỉ nhờ được một thanh niên, con một cán bộ cơ quan cũ giúp đi cùng. Thanh niên này chưa khi nào tiếp xúc với tôi trong việc tôi tìm mộ và cũng không biết gì về nguời anh Liệt sĩ của gia đình tôi.
  Tiếp tôi, NNC Hoàng Thị Thiêm nói rằng trường hợp của tôi rất khó, nhưng NNC vẫn bảo tôi cứ ở lại, đừng vội về vì “biết đâu gặp may, vong về”.
   Tôi đã gặp may. Tại khu vườn NNC, vong anh tôi đã về. Liệt sĩ Chính cho biết, tôi đã tìm đúng “nhà” của liệt sĩ, chữ “nhà” là của liệt sĩ, “đừng băn khoăn gì nữa”. Liệt sĩ còn cho biết mấy ngày qua, đã thấy tôi nhiều lần đến Nghĩa Trang (đúng như vậy, suốt tuần qua, tôi qua lại Nhân Thắng nhiều lần).
    Nhận thông tin như vậy mừng lắm, nhưng tôi cần biết đích xác có phải đây là vong anh Chính - anh ruột của tôi - đang giao lưu không. Tôi đã hỏi về người tiểu đoàn trưởng, anh Chính bảo ông này dân tộc Tày Cao Bằng và thêm rằng “nó tốt lắm đấy”.
   Tôi hỏi trường hợp anh hy sinh. Anh cho biết bị thương, nằm ờ đình làng Ngụ mấy ngày. Khi anh chết, được chôn ở sát mương nước và đã vào nghĩa trang tới 2 lần (2 lần quy tập). Anh cũng cho biết chỉ riêng anh có quan tài gỗ, những người khác không có và anh bảo “thế là không tốt đâu”, “quân nhân hy sinh phải như nhau mới đúng”.
   Tôi hỏi ngày anh đi vào Bắc Ninh, từ đơn vị anh đến thẳng nơi tập kết hay sao? Anh bảo có ghé qua nhà. Tôi lại hỏi có ai tiễn anh không? Giọng anh nhòe nước mắt, anh bảo  “Em tiễn chứ ai”. Ngay sau đó anh khóc nấc lên, khóc rất lâu. Tôi vỗ về, nói anh đừng khóc nữa, hãy nói chuyện với em.
   Tôi nói tiếp: Anh bảo vị tiểu đoàn trưởng tốt, thế tại sao khi anh (là chính trị viên tiều đoàn) bị thương, ông ta không cho cáng anh ra vùng tự do chạy chữa? Anh đáp “Ừ nhỉ, không hiểu sao nó không làm thế”…
   Dù rằng đã nghe anh nói về “nhà” (mộ) của anh, tôi vẫn hỏi tiếp, với vẻ ngập ngừng rằng anh đang ở nghĩa trang nào, có phải Phú Hòa không. Anh hơi gắt : Sao lại Phú Hòa. Rồi anh nói như giảng bài: Nhân là người. là nhân đạo, thắng là gì, là thắng lợi, là thành công. Rồi anh nói lớn, rành rõ: Nhân Thắng.
   Tôi hỏi thêm, anh có gặp bố mẹ không. Anh bảo có và anh nói (đúng với thực tế) rằng mộ của bố tôi đã được chỉnh trang. Anh nói : Nhà ta, các em làm thế là tốt, chăm sóc mộ thân nhân là rất tốt. Anh cũng biết anh Văn Giang (anh rể  tôi)  bệnh, và  nói  “nó còn thọ lâu”.
    Tôi xin phép anh, khi thăm mộ, anh cho đốt vàng mã. Anh bảo không dùng chữ đốt. Phải nói hóa vàng nhưng “nhớ hóa ít thôi, phải tiết kiệm”.
    Trong lần áp vong này, tôi còn gặp con gái của tôi là Nguyễn Thanh Việt. Mới đầu tôi chưa nhận ra Việt nên hỏi tên các vong khác. Việt lắc đầu, làm mặt giận hờn. Tôi nhẹ nhàng hỏi “Con Việt à ?”. Cháu ôm ngay lấy tôi và khóc. Khóc nức nở. Tôi nói xin lỗi con, nhắc Việt đừng khóc để nói chuyện. Việt trở nên tươi tỉnh và nhắc đi, nhắc lại rằng thấy nhiều lần bố đến chỗ bác Chính. Việt có vẻ rất vui, khoe rằng : Con chỉ đường cho bố tìm thấy mộ bác Chính đấy. Tôi nói cảm ơn con và hai bố con cùng khóc…
     Vài điều nói  rõ thêm:
      1/ Trong lần tiếp xúc với NNC Phan Bích Hằng, NNC nói : Liệt sĩ bức xúc lắm, ông bảo lâu lắm rồi, sáu mươi năm chưa gặp được người thân (?). Còn hôm tôi (NKT) đến Nghĩa trang để tìm mộ theo chỉ dẫn, qua lời NNC Phan Bích Hằng thì, liệt sĩ thấy tôi đến Nghĩa trang cùng với mấy người nữa, “có một phụ nữ, không phải vợ, không phải con” của liệt sĩ (đúng là hôm đó có một chị là cán bộ cơ quan cũ đi cùng tôi). Liệt sĩ nói rằng “vợ tôi đi lấy chồng rồi, nhưng nếu bà đến thắp cho tôi một nén hương thì cũng tốt”.
     Liệt sĩ dặn kỹ (qua lời NNC Phan Bích Hằng): tôi phải báo với bố mẹ đã tìm thấy mộ anh Chính, nhất là báo với mẹ, “trước đây bà đã nhiều năm mòn mỏi, muốn biết mộ con mà không thấy”. Tôi đã làm việc này và dặn vợ tôi thắp hương ngay trên bàn thờ (ở TPHCM), báo cáo với bố mẹ.
     2/Cuối tháng 6-2013 - trước ngày tôi đi tìm mộ lần này - trong một lần gia đình tôi họp mặt cuối tuần -  vong của anh Nguyễn Khắc Chính đã nhập vào cháu ngoại của tôi (cháu Phạm Khánh Linh, 14 tuổi) mà hoàn toàn không có sự trợ giúp của NNC nào. Hôm đó, anh Chính chỉ dặn tôi hãy ra Bắc ngay để tìm mộ, sẽ có người giúp đỡ.
Chiều tối hôm đó, vong con gái của tôi (Nguyễn Thanh Việt) cũng nhập vào cháu Linh.
Việt nói rằng con đã gặp bác Chính, đã biết mộ của bác, cháu cũng nói tôi cần ra Bắc để tìm mộ bác. Cháu nói rành rẽ là con đã gặp bác Chính, biết mộ bác rồi, bố ra ngay đi, con sẽ chỉ cho bố.
Tôi hỏi: Con biết mộ bác Chính ở Nghĩa trang nào ? Cháu đáp rất nhanh: “Nhân Thắng”.
Tuy Việt là cháu bác Chính, nhưng Việt sống ở trong Nam từ dưới 7 tuổi, chưa một lần đến Bắc Ninh, vậy tại sao cháu lại nói tới địa danh Nhân Thắng?
Nguyễn Thanh Việt) chết lúc 40 tuổi, do tai nạn - đuối nước. Năm ngoái, 2012, vong của Việt cũng về (nhập vào người cháu của chồng Việt).
Lần đó, tôi hỏi: Con gặp bác Chính chưa, có biết mộ bác không, Việt đáp chưa. Tôi dặn: Con tìm gặp bác, tìm mộ bác giùm cho bố. Việt đáp: Con nghe lời bố, con sẽ lưu ý.
Còn lần giao lưu này (6-2013), cháu đã trao đổi như trên…
Việc tìm mộ Anh lâu nay luôn luôn thôi thúc chúng tôi, nhưng suốt những năm qua, chưa khi nào tôi đi tìm mộ vào dịp mùa hè, tháng 7.
Lần này tôi phải cân nhắc: vì sao vong anh Chính và vong con gái của tôi đều nhắc dịp này, tôi cần ra Bắc ngay để tìm mộ  ?
Anh Chính còn nhắc mấy lần rằng “sẽ có người giúp” .
Tôi bật ra câu hỏi: Em đi với ai, cháu Vinh à ? Anh bảo: Không cần. Hay với chị Chi ? – tôi hỏi tiếp – Anh cũng đáp “Không cần, chỉ mình em thôi”.
Lạ thật. Một người là con ruột (Vinh), một người là em gái ruột, anh cũng bảo không cần. Phải chăng cháu Vinh còn vướng víu mấy đứa cháu nội bé bỏng, còn chị gái tôi – em ruột của anh thì đã bắt đầu già yếu (84 tuổi) ?
Tôi nhủ lòng, cần theo ý của anh, nhưng chưa nói ra thì vợ của tôi (Trần Thị Loan) đã nhắc: Ý bác Chính như vậy thì anh phải nghe. Anh nên đi ngay. Loan cũng đồng ý với tôi, chuyến đi hoàn toàn nín lặng, không cần nói ra với con cháu trong gia đình,  kể cả với mọi thành viên ruột thịt trong họ.
 3/Trong lần tiếp xúc đầu tiên với NNC Phan Bích Hằng, chị đã nói với tôi rằng : Không có NNC nào giỏi hơn NNC nào, tiếp xúc, giao lưu được với vong, tìm được mộ thất lạc là “cái duyên”.
NNC cho biết đã có lần chị không thể nào tìm ra được một ngôi mộ mà ngôi mộ này lại được một người khác (người chưa có tên tuổi trong giới Ngoại cảm)  tìm ra. Nghe vậy, tôi càng thấy vững tâm.
Hàng chục năm qua, gia đình chúng tôi đã tìm gặp nhiều NNC (có những người tôi không kê tên trên đây), nhưng chưa khi nào chúng tôi có duyên may mắn như lần này.
 Xin được tạ ơn tất cả. Tạ ơn các vị thần linh, tạ ơn Anh Chính và con Nguyễn Thanh Việt, tạ ơn các Nhà Ngoại Cảm, các vị trong Bộ môn Cận Tâm lý – Trung tâm Nghiên cứu Tiềm năng con người, các vị Quản trang, các thân hữu v.v… Các vị đã giúp đỡ, khích lệ, tạo ra “cơ duyên” cho chúng tôi tìm thấy phần mộ anh ruột của mình sau hơn nửa thế kỷ (1953 – 2013) . 
     Người ghi: Nguyễn Khắc Trí 
Bức trướng của đồng đội thuốc tiểu đoàn 432, ghi rõ 7 ngày đơn vị chiến đấu tại thôn Ngụ, tháng 2 năm 1953. Bức trướng hiện đặt tại nhà Quản trang, Nghĩa trang Nhân Thắng.       

Ghi chú:     Nơi áp vong (nhà chị Bùi Thị Thiêm -thôn Bùi Trám) là khu vườn để thân nhân liệt sĩ "giao tiếp" với vong, hoàn toàn do các thân nhân thực hiện, chị Thiêm chỉ nhắc từng gia đình ngồi lại, nghiêm túc, chân thành khấn mong được tiếp vong. Bản thân chị Thiêm khi thấy vong về thì sáp lại, lễ phép xin danh xưng của vong, lạy tạ vong rồi nhắc gia đình "tiếp vong". Chị Thiêm hoàn toàn không trực tiếp "gọi hồn" hoắc làm động tác gì khác. Khi các gia đình tiếp vong, chị Thiêm đi ra chỗ khác hoặc vào trong nhà của chị. Khi đến "tiếp vong", có những gia đình không gặp được vong. 
                Một chi tiết tôi đã "truy đến cùng" là vong anh trai tôi nói tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 432 tên là Nông Quốc Long, người Tày, quê Cao Bằng. Tôi gọi diện thoại lên Hội Cựu chiến binh Cao Bằng. Nơi này cho biết ông Long là cựu chiến binh và làm việc ở UBND tỉnh (Phó chủ tịch tỉnh). Tôi xin được điện thoại riêng của ông Long, hỏi chuyện ông. Ông nói lâu quá quên nhiều nhưng anh trai tôi (Nguyễn Khắc Chính) là Chính trị viên tiểu đoàn thì ông nhớ và cũng nói anh tôi được chôn cất ở làng Ngụ, Bắc Ninh...                                         

                                                            

blog cá nhân: Mandela: 8 Nguyên Tắc Lãnh Đạo[*]Nelson Mandela...

blog cá nhân: Mandela: 8 Nguyên Tắc Lãnh Đạo[*]


Nelson Mandela...
: Mandela: 8 Nguyên Tắc Lãnh Đạo[*] Nelson Mandela là một người dễ gần với trẻ con; nói theo nhiều cách khác nhau, sự mất mát lớn nhấ...
 
blog cá nhân Blogger Template by Ipietoon Blogger Template