blog cá nhân: BÀI THƠ "BÊN KIA SÔNG ĐUỐNG" CỦA HOÀNG CẦM
Bên ki...: BÀI THƠ "BÊN KIA SÔNG ĐUỐNG" CỦA HOÀNG CẦM Bên kia sông Đuống Hoàng Cầm Em ơi! Buồn làm chi Anh đưa em về sông ...
Thứ Hai, 17 tháng 2, 2020
blog cá nhân: BÀI THƠ "BÊN KIA SÔNG ĐUỐNG" CỦA HOÀNG CẦMBên ki...
Chủ Nhật, 24 tháng 12, 2017
BÀI THƠ "BÊN KIA SÔNG ĐUỐNG" CỦA HOÀNG CẦM
Bên kia sông Đuống
Hoàng Cầm
Em ơi! Buồn làm
chi
Anh đưa em về sông Đuống
Ngày xưa cát trắng phẳng lì
Sông Đuống trôi đi
Một dòng lấp loáng
Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ
Xanh xanh bãi mía bờ dâu
Ngô khoai biêng biếc
Đứng bên này sông sao nhớ tiếc
Sao xót xa như rụng bàn tay
Bên kia sông Đuống
Quê hương ta lúa nếp thơm nồng
Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong
Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp
Quê hương ta từ ngày khủng khiếp
Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn
Ruộng ta khô
Nhà ta cháy
Chó ngộ một đàn
Lưỡi dài lê sắc máu
Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang
Mẹ con đàn lợn âm dương
Chia lìa đôi ngả
Đám cưới chuột tưng bừng rộn rã
Bây giờ tan tác về đâu?
Ai về bên kia sông Đuống
Cho ta gửi tấm the đen
Mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên
Những hội hè đình đám
Trên núi Thiên Thai
Trong chùa Bút Tháp
Giữa huyện Lang Tài
Gửi về may áo cho ai
Chuông chùa văng vẳng nay người ở đâu
Những nàng môi cắn chỉ quết trầu
Những cụ già phơ phơ tóc trắng
Những em sột soạt quần nâu
Bây giờ đi đâu? Về đâu?
Ai về bên kia sông Đuống
Có nhớ từng khuôn mặt búp sen
Những cô hàng xén răng đen
Cười như mùa thu toả nắng
Chợ Hồ, chợ Sủi người đua chen
Bãi Trầm Chỉ người giăng tơ nghẽn lối
Những nàng dệt sợi
Đi bán lụa mầu
Những người thợ nhuộm
Đồng Tỉnh, Huê Cầu
Bây giờ đi đâu? Về đâu?
Bên kia sông Đuống
Mẹ già nua còm cõi gánh hàng rong
Dăm miếng cau khô
Mấy lọ phẩm hồng
Vài thếp giấy dầm hoen sương sớm
Chợt lũ quỷ mắt xanh trừng trợn
Khua giầy đinh đạp gẫy quán gầy teo
Xì xồ cướp bóc
Tan phiên chợ nghèo
Lá đa lác đác trước lều
Vài ba vết máu loang chiều mùa đông
Chưa bán được một đồng
Mẹ già lại quẩy gánh hàng rong
Bước cao thấp trên bờ tre hun hút
Có con cò trắng bay vùn vụt
Lướt ngang dòng sông Đuống về đâu?
Mẹ ta lòng đói dạ sầu
Đường trơn mưa lạnh mái đầu bạc phơ
Bên kia sông Đuống
Ta có đàn con thơ
Ngày tranh nhau một bát cháo ngô
Đêm líu díu chui gầm giường tránh đạn
Lấy mẹt quây tròn
Tưởng làm tổ ấm
Trong giấc thơ ngây tiếng súng dồn tựa sấm
Ú ớ cơn mê
Thon thót giật mình
Bóng giặc dày vò những nét môi xinh
Đã có đất này chép tội
Chúng ta không biết nguôi hờn
Đêm buông xuống dòng sông Đuống
Con là ai? - Con ở đâu về?
Hé một cánh liếp
- Con vào đây bốn phía tường che
Lửa đèn leo lét soi tình mẹ
Khuôn mặt bừng lên như dựng giăng
Ngậm ngùi tóc trắng đang thầm kể
Những chuyện muôn đời không nói năng
Đêm đi sâu quá lòng sông Đuống
Bộ đội bên sông đã trở về
Con bắt đầu xuất kích
Trại giặc bắt đầu run trong sương
Dao loé giữa chợ
Gậy lùa cuối thôn
Lúa chín vàng hoe giặc mất hồn
Ăn không ngon
Ngủ không yên
Đứng không vững
Chúng mày phát điên
Quay cuồng như xéo trên đống lửa
Mà cánh đồng ta còn chan chứa
Bao nhiêu nắng đẹp mùa xuân
Gió đưa tiếng hát về gần
Thợ cấy đánh giặc dân quân cày bừa
Tiếng bà ru cháu xế trưa
Chang chang nắng hạ võng đưa rầu rầu
"À ơi... cha con chết trận từ lâu
Con càng khôn lớn càng sâu mối thù"
Tiếng em cắt cỏ hôm xưa
Hiu hiu gió rét mịt mù mưa bay
"Thân ta hoen ố vì mày
Hờn ta cùng với đất này dài lâu..."
Em ơi! Đừng hát nữa! Lòng anh đau
Mẹ ơi! Đừng khóc nữa! Dạ con sầu
Cánh đồng im phăng phắc
Để con đi giết giặc
Lấy máu nó rửa thù này
Lấy súng nó cầm chắc tay
Mỗi đêm một lần mở hội
Trong lòng con chim múa hoa cười
Vì nắng sắp lên rồi
Chân trời đã tỏ
Sông Đuống cuồn cuộn trôi
Để nó cuốn phăng ra bể
Bao nhiêu đồn giặc tơi bời
Bao nhiêu nước mắt
Bao nhiêu mồ hôi
Bao nhiêu bóng tối
Bao nhiêu nỗi đời
Bao giờ về bên kia sông Đuống
Anh lại tìm em
Em mặc yếm thắm
Em thắt lụa hồng
Em đi trảy hội non sông
Cười mê ánh sáng muôn lòng xuân xanh.
Anh đưa em về sông Đuống
Ngày xưa cát trắng phẳng lì
Sông Đuống trôi đi
Một dòng lấp loáng
Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ
Xanh xanh bãi mía bờ dâu
Ngô khoai biêng biếc
Đứng bên này sông sao nhớ tiếc
Sao xót xa như rụng bàn tay
Bên kia sông Đuống
Quê hương ta lúa nếp thơm nồng
Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong
Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp
Quê hương ta từ ngày khủng khiếp
Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn
Ruộng ta khô
Nhà ta cháy
Chó ngộ một đàn
Lưỡi dài lê sắc máu
Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang
Mẹ con đàn lợn âm dương
Chia lìa đôi ngả
Đám cưới chuột tưng bừng rộn rã
Bây giờ tan tác về đâu?
Ai về bên kia sông Đuống
Cho ta gửi tấm the đen
Mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên
Những hội hè đình đám
Trên núi Thiên Thai
Trong chùa Bút Tháp
Giữa huyện Lang Tài
Gửi về may áo cho ai
Chuông chùa văng vẳng nay người ở đâu
Những nàng môi cắn chỉ quết trầu
Những cụ già phơ phơ tóc trắng
Những em sột soạt quần nâu
Bây giờ đi đâu? Về đâu?
Ai về bên kia sông Đuống
Có nhớ từng khuôn mặt búp sen
Những cô hàng xén răng đen
Cười như mùa thu toả nắng
Chợ Hồ, chợ Sủi người đua chen
Bãi Trầm Chỉ người giăng tơ nghẽn lối
Những nàng dệt sợi
Đi bán lụa mầu
Những người thợ nhuộm
Đồng Tỉnh, Huê Cầu
Bây giờ đi đâu? Về đâu?
Bên kia sông Đuống
Mẹ già nua còm cõi gánh hàng rong
Dăm miếng cau khô
Mấy lọ phẩm hồng
Vài thếp giấy dầm hoen sương sớm
Chợt lũ quỷ mắt xanh trừng trợn
Khua giầy đinh đạp gẫy quán gầy teo
Xì xồ cướp bóc
Tan phiên chợ nghèo
Lá đa lác đác trước lều
Vài ba vết máu loang chiều mùa đông
Chưa bán được một đồng
Mẹ già lại quẩy gánh hàng rong
Bước cao thấp trên bờ tre hun hút
Có con cò trắng bay vùn vụt
Lướt ngang dòng sông Đuống về đâu?
Mẹ ta lòng đói dạ sầu
Đường trơn mưa lạnh mái đầu bạc phơ
Bên kia sông Đuống
Ta có đàn con thơ
Ngày tranh nhau một bát cháo ngô
Đêm líu díu chui gầm giường tránh đạn
Lấy mẹt quây tròn
Tưởng làm tổ ấm
Trong giấc thơ ngây tiếng súng dồn tựa sấm
Ú ớ cơn mê
Thon thót giật mình
Bóng giặc dày vò những nét môi xinh
Đã có đất này chép tội
Chúng ta không biết nguôi hờn
Đêm buông xuống dòng sông Đuống
Con là ai? - Con ở đâu về?
Hé một cánh liếp
- Con vào đây bốn phía tường che
Lửa đèn leo lét soi tình mẹ
Khuôn mặt bừng lên như dựng giăng
Ngậm ngùi tóc trắng đang thầm kể
Những chuyện muôn đời không nói năng
Đêm đi sâu quá lòng sông Đuống
Bộ đội bên sông đã trở về
Con bắt đầu xuất kích
Trại giặc bắt đầu run trong sương
Dao loé giữa chợ
Gậy lùa cuối thôn
Lúa chín vàng hoe giặc mất hồn
Ăn không ngon
Ngủ không yên
Đứng không vững
Chúng mày phát điên
Quay cuồng như xéo trên đống lửa
Mà cánh đồng ta còn chan chứa
Bao nhiêu nắng đẹp mùa xuân
Gió đưa tiếng hát về gần
Thợ cấy đánh giặc dân quân cày bừa
Tiếng bà ru cháu xế trưa
Chang chang nắng hạ võng đưa rầu rầu
"À ơi... cha con chết trận từ lâu
Con càng khôn lớn càng sâu mối thù"
Tiếng em cắt cỏ hôm xưa
Hiu hiu gió rét mịt mù mưa bay
"Thân ta hoen ố vì mày
Hờn ta cùng với đất này dài lâu..."
Em ơi! Đừng hát nữa! Lòng anh đau
Mẹ ơi! Đừng khóc nữa! Dạ con sầu
Cánh đồng im phăng phắc
Để con đi giết giặc
Lấy máu nó rửa thù này
Lấy súng nó cầm chắc tay
Mỗi đêm một lần mở hội
Trong lòng con chim múa hoa cười
Vì nắng sắp lên rồi
Chân trời đã tỏ
Sông Đuống cuồn cuộn trôi
Để nó cuốn phăng ra bể
Bao nhiêu đồn giặc tơi bời
Bao nhiêu nước mắt
Bao nhiêu mồ hôi
Bao nhiêu bóng tối
Bao nhiêu nỗi đời
Bao giờ về bên kia sông Đuống
Anh lại tìm em
Em mặc yếm thắm
Em thắt lụa hồng
Em đi trảy hội non sông
Cười mê ánh sáng muôn lòng xuân xanh.
(Việt Bắc, tháng 04/1948)
Thứ Sáu, 10 tháng 11, 2017
MẸ TÔI
MẸ
TÔI
Đây là lần đầu tiên tôi viết về Mẹ, khi
Mẹ từ biệt thế giới này đã hơn 20 năm (3-2-1996 - 15 tháng Chạp Ất Hợi).
Ngày tháng lớp lớp qua đi mà vẫn không thể
nguôi ngoai nỗi nhớ Mẹ. Chị Kim Chi- chị gái của tôi năm nay đã 87 tuổi, vẫn
mang nỗi tiếc nuối gần như sự ân hận không xan sẻ được rằng chưa báo đáp được
gì cho mẹ. Chị nói : lúc có điều kiện chăm sóc cho mẹ thì mẹ đã rời xa con cháu
rồi…
Mẹ tôi cực nhọc từ tấm bé. Hơn mười tuổi
đã phải theo đàn chị đi làm thuê, cấy mướn. Đồng đất Hưng Yên không có chỗ nhờ
cậy, mẹ phải theo đàn chị lên vùng trung du Yên Thế (Bắc Giang) tìm việc. Tuổi
thiếu nữ của mẹ ngày ngày cắm mặt xuống đất, cấy lúa, làm cỏ, bón phân, gặt hái…
Mẹ lớn dần trong nghề làm mướn…
Mẹ tôi gặp cha tôi cũng ở nơi làm thuê: Ông
giáo làng. “Ông giáo làng” khi đó cũng chỉ là người ở trọ, phải tha phương kiếm
sống.Quê ông mãi tận miệt Kiến An xa xôi.
Thành vợ chồng mà cha mẹ vẫn phải tiếp tục ở
trọ.Việc ai người nấy làm, mãi tới khi mua rẻ được mảnh đất ở làng Đồng, xã Ngọc
Lý tỉnh Bắc Giang mới thánh người “ra riêng”. Người làng Đồng còn nhớ ngày cha
mẹ tôi dọn tới, ông bà chỉ có vỏn vẹn một gánh quần áo, nồi niêu…
Cha tiếp tục nghề dạy học, còn mẹ đã dần “đổi
nghề”. Mẹ mua thóc về xay giã (nghề hàng xáo), lấy cám nuôi lợn rồi bán gạo, có
dư ra chút chút cho bữa ăn gia đình.
Mẹ tôi kể: Những năm đó ai cũng nghèo, đói
kém nhiều lắm. Xay giã được vài chục cân
gạo đem bán, cả mươi người mua mới xong
phiên chợ. Cứ như vậy, ngày tháng qua đi… Nghề hàng xáo không dừng ở một “nồi”
gạo (khoảng 14-15 kilôgam) mà “nở nồi”, mẹ như người làm nghề chuyên nghiệp:
vài ba tạ thóc, mấy trăm cân gạo bán ra và lợn nuôi đã dần dà lên năm bẩy con.
Lợn nái mỗi năm mỗi lứa. Lợn mẹ đẻ lợn con lít nhít…ra tiền.
Rồi một ngày đẹp trời, có một người anh con
ông bác ruột của mẹ (ông tên là Trần Văn Phiếm) làm viên chức ở mỏ Vàng Danh,
thương đứa em lam lũ và tháo vát, đã cho mẹ tôi mượn chút vốn…
Tiền còm rồi cũng đẻ ra tiền, ruộng đẻ ra ruộng,
giúp tạo dựng cuộc sống cho đỡ vất vả. Hai chữ “dân ngụ cư” của cha mẹ biến mất lúc
nào không hay
Đời sống khấm khá tự nhiên thành người được
tôn trọng. Cha tôi được học trò (và cả người không học cha) đều gọi là “thầy
giáo” “ông giáo” với vẻ nể nang,kính trọng. Còn mẹ tôi luôn luôn được mọi người
gọi “bà giáo”- dù mẹ không dính dáng gì tới công việc của cha tôi (!).
Cuộc sống dễ chịu, êm ả cũng được mươi mười
lăm năm thì cha tôi mất do bọn lưu manh kéo đến cướp của, giết người…
Ngày cha tôi mất, Mẹ với sáu người con, chưa
ai có sự nghiệp riêng. Mẹ mất quá lớn một chỗ dựa tinh thần, mất một trụ cột.
Mẹ phải vượt qua và đã vượt ngoạn mục. Các
con tiếp tục được đi học, kinh tế gia đình được duy trì vững vàng. Anh trai lớn
(Nguyễn Khắc Chính) và chị gái Nguyễn Thị Kim Chi được mẹ khích lệ tham gia việc
nước, việc của chính phủ cụ Hồ…
Nhưng rồi cũng chẳng bao lâu, người Pháp trở
lại. Họ chiếm đóng thị xã Bắc Giang, đóng đồn ở núi Mỏ Thổ, cách làng Đồng hơn
một kilomet và biến vùng Ngọc Lý thành “vùng trắng”. Ruộng đất thành hoang hóa.
Mẹ phải bỏ tất cả, đưa các con chạy “tản cư” lên tỉnh Thái Nguyên. Rồi nhà cửa
của mẹ ở làng Đồng tiếp tục bị cướp phá. Không rõ kẻ cướp từ đâu, lợi dụng lúc
dân làng tản cư, họ ngang nhiên tới dỡ nhà, chuồng trâu bò, nạy từng viên gạch
mang đi…Cơ ngơi bao năm cha mẹ tôi tạo dựng… chỉ còn là một đám đất bị cạy phá
nham nhở…
Cuộc tản
cư chưa biết ngày trở về. Trong nhà, ngoài bốn anh em chúng tôi, lúc này có
thêm cháu Nguyễn Thị Khánh Vinh, con của
người anh cả (anh Nguyễn Khắc Chính và chị Nguyễn Thị Vân, họ đều phải thoát ly
gia đình đi kháng chiến)…Gạo, thực phẩm và tiền mẹ mang theo khi tản cư…đang cạn
dần, mẹ vẫn bảo chúng tôi cứ đi học bình thường, mẹ đã có cách lo cho các con.
Cách của mẹ là mua gạo từ miền xuôi đưa lên thị xã Thái Nguyên., nơi có đông bà
con tản cư. Những chuyến thuyền chở gạo đầu tiên, bán ra rất nhanh. Thuyền
10-15 tấn chạy dọc sông máng, chỉ vài ba
ngày là lại quay vòng. Mẹ còn góp tiền với một nhà buôn khác, mua chung thuyền,
tự chở gạo…
Nhưng rồi chỉ được vài ba tháng, thuyền mất luôn do người chung vốn
bỏ chạy về vùng chiếm đóng của người Pháp. Thuyền mất, cụt vốn, nhưng nếu còn
thuyền cũng không dùng được vì người Pháp ném bom phá đập sông Cái, nước
không về nhánh sông mà mẹ tôi vẫn dùng thuyền !
Gạo vẫn được người buôn nườm nượp chuyển lên Thái Nguyên bằng các xe đạp thồ. Nhưng thồ gạo thì mẹ
không làm nổi . Mẹ tìm sinh kế bằng cách mở quán cơm, quán trọ, đón khách là các
tốp xe thồ… Quán ngày một đông khách, mẹ mua tiếp hai dẫy
nhà bên cạnh, rồi dựng một dẫy phía sau làm thêm quán trọ…
Kháng chiến, ai cũng gặp khó khăn, nhưng mẹ vẫn
có “đồng ra đồng vào” nuôi dạy chúng tôi…
Nhưng điều gì cũng chỉ có một thời. Pháp thua
ở Điện Biên Phủ, hòa bình lập lại…Chuyện buôn bán thay đổi theo thời cuộc. Người
ta vẫn đi lại, buôn bán, nhưng cái nhánh đường tắt qua làng Đức Lân –nơi chúng tôi tản cư… chỉ còn người làng đi cày cấy.
Dẫy quán của mẹ tôi phải rao bán giá rẻ mạt mà lâu lắm mới có người mua…
Làm gì để kiếm sống bây giờ đây? Về lại làng
Đồng ư? Đất ruộng lại phải vỡ hoang sao? Lấy tiền đâu mà dựng lại nhà ở. Bài
toán không thể giải khi mẹ tôi đã bắt đầu xuống sức và tiền bạc gần như cạn kiệt. Tôi nghĩ còn một
lý do nữa, mẹ không muốn về làng Đồng vì 15 mẫu ruộng của mẹ chắc gì “địa
phương” để yên. Mẹ đã thấy ở chỗ tản cư, chỉ có vài ba mẫu ruộng bạc màu là đã
thành “địa chủ”, bị đấu tố lia chia. Dù đã bỏ hẳn ruộng đất trên 5 năm, ở chỗ tản
cư quy gia đình là tiểu thương, nhưng nghe tin ở làng, người ta nói mẹ là “địa
chủ kháng chiến”. Vậy thì bỏ quách, khỏi dính dáng mệt người. Và thực sự gia cảnh
khi đó (năm 1954), mẹ tôi đã quá mệt mỏi rồi…
Mẹ quyết định về Hà Nội, tìm nhà có giá thuê
rẻ mạt và ra chợ mua bán đồ cũ…Đồ cũ cũng không nuôi nổi các con, ít lâu sau mẹ
vào một công ty quốc doanh làm nhân viên thu dọn kho, rồi sau đó là trông trẻ…
Gần bẩy mươi tuổi mẹ tôi mới nghỉ việc, hưởng
chế độ trợ cấp hàng tháng cho người mất sức lao động.
Mấy năm sau, khi bẩy mươi bẩy tuổi, mẹ tôi
vào Sài Gòn –TPHCM “định cư” cùng các
con cháu.
Rồi chín mươi hai tuổi, mẹ về với Tổ tiên,
vĩnh biệt tất cả các con, cháu, chắt…
Thế là
cũng hết một đời người…
Một đời người mà những người ít nhiều biết về
mẹ tôi chỉ nghĩ đó là bà mẹ giỏi dang, tháo vát, từng trải và sức chịu đựng gian
truân đáng nể…
Chị em tôi cũng nghĩ như thế, nhưng nghĩ mà cảm
phục rất nhiều, kính trọng và xót thương cho mẹ. Xót vì mẹ đã phải gánh chịu
quá nhiều nỗi đau mà cuộc đời không hẳn có nhiều người đau giống mẹ..
Cha tôi chết trong tình trạng bị cướp giết,
khi mẹ tôi mới 40 tuổi. Một bà mẹ với 6 người con chưa ai trưởng thành. Sự chịu
đựng về nỗi khó khăn cơm áo không thể so được với sự tổn thương tinh hần, mất hẳn
một chỗ dựa trụ cột của gia đình. Hoàn cảnh cái chết của cha tôi là nỗi đau giằng
xé suốt đời mẹ. Rồi tiếp theo là những cái chết của mấy người con. Con trai cả
của mẹ-anh Nguyễn Khắc Chính chết khi tương lai rất sáng sủa, anh mới 26 tuổi,.
Anh chết trong một trận cùng bộ đội chống càn của giặc Pháp ở vùng Lương Tài –Bắc
Ninh. Mẹ tôi và chị dâu (chị Nguyễn Thị Vân) sau hòa bình lập lại, đã về Bắc
Ninh tìm mộ anh. Nhưng thật oái ăm, sơ đồ mộ anh đã bị tiêu hủy vì người giữ sơ
đồ là bí thư chi bộ bị bắt, do nghi là “Quốc Dân Đảng”, bà vợ ở nhà đốt hết các
giấy tờ vì sợ rắc rối…
Vậy là khi mẹ còn sống, mẹ vẫn chưa biết được
nơi chôn cất anh Chính.
Nỗi đau trước chưa nguôi thì nỗi đau tiếp lại
dồn dập đến : Năm trước (1981), con trai út (Nguyễn Khắc Chân) chết khi mới 36
tuổi do trọng bệnh, xương cốt được thiêu từ nước Nga xa xôi đưa về. Năm sau
(1982), con gái áp út (Nguyễn Thị Minh Châu) chết khi sinh mổ ở tuổi 42. Con
trai thứ 3 (Nguyễn Khắc Chinh) thì mất tích từ 1955 khi anh mới vừa 21 tuổi và
cho đến khi mẹ từ trần, vẫn chưa có tin gì về anh Chinh.
Sáu người con mà những năm tháng cuối đời, mẹ
chỉ có 2 người ở bên…
TP Sài Gòn TPHồ Chí Minh 11/2017
Chủ Nhật, 8 tháng 10, 2017
Biển
số xe quân đội
(chưa
đầy đủ)
Thứ
hai, 14/04/2014, 07:54 (GMT+7)
(An
ninh quốc gia) - Các loại xe quân sự ở Việt Nam luôn có những dấu hiệu đặc
trưng riêng và tấm biển số màu đỏ đặc trưng thể hiện rất rõ điều đó. Các ký
hiệu gồm 2 chữ cái đi liền nhau sẽ trở thành bí ẩn với những người không biết
hoặc chưa từng nghe qua.
Các
kí hiệu chữ cái xuất hiện trên biển số xe như AA, HB, KC, TM có ý nghĩa gì
không? Chúng biểu thị cho cái gì? Đây là câu hỏi được rất nhiều người quan tâm,
thậm chí có những cuộc tranh cãi thú vị xoay quanh chuyện “đoán già, đoán non”
những kí tự trên tấm biển số màu đỏ đặc trưng của quân đội.
Thực
tế, các kí tự này đều được quy định trong Thông tư số 01/2007/TT-BCA-C11 Bộ
Công an đã ban hành. Thông tư này quy định về việc tổ chức đăng ký, cấp biển
số, phương tiện giao thông cơ giới đường bộ. Chỉ cần tìm hiểu kỹ một chút,
chúng ta dễ dàng biết rõ chiếc xe đó thuộc đơn vị, quân đoàn hay binh chủng
nào?
Xe
quân sự mang biển kiểm soát màu đỏ: Ký hiệu chữ gồm 2 chữ cái đi liền nhau,
đằng sau là dãy số
A:
Chữ cái đầu tiên là A biểu thị chiếc xe đó thuộc cấp Quân đoàn. Ví dụ, AA là
Quân đoàn 1 – Binh đoàn Quyết Thắng ,
AB là Quân đoàn 2 – Binh đoàn
Hương Giang. AC: Quân đoàn 3 – Binh đoàn Tây Nguyên, AD: Quân Đoàn 4 – Binh
đoàn Cửu Long, AT: Binh đoàn 12.
B:
Bộ Tư lệnh hoặc Binh chủng. Ví dụ, BT là Bộ Tư lệnh Tăng thiết giáp, BD (Bộ Tư
lệnh Đặc công), BH (Bộ Tư lệnh Hóa học), BC (Binh chủng Công Binh), BT (Binh
chủng Thông tin liên lạc), BP (Bộ tư lệnh biên phòng), BL (Bộ tư lệnh Lăng).
H:
Học viện. Cụ thể, HA: Học viện Quốc phòng, HB: Học viện lục quân, HD: Học viện
Kỹ thuật quân sự, HE: Học viện Hậu cần, HH: Học viện quân y.
K:
Quân khu. Trong đó, KA (Quân khu 1), KB (Quân khu 2), KC (Quân khu 3), KD (Quân
khu 4), KV (Quân khu 5), KP (Quân khu 7), KK (Quân khu 9), KT (Quân khu Thủ
đô).
Chữ
cái đầu K là xe thuộc các quân khu
Q:
Quân chủng. QP (Quân chủng Phòng không), QK (Quân chủng không quân), QH (Quân
chủng hải quân).
T:
Tổng cục. TC (Tổng cục Chính trị), TH (Tổng cục Hậu cần), TK (Tổng cục Công nghiệp
quốc phòng), TT (Tổng cục kỹ thuật), TM (Bộ Tổng Tham mưu).
Ngoài
ra còn một số đơn vị có kí hiệu khá riêng biệt như: Xe Quân đội làm kinh tế có
ký hiệu “KT”. Biển VT là của Tập đoàn Viễn thông Quân đội
(Viettel), PA: Cục Đối ngoại Bộ Quốc phòng, PQ: Viện Kỹ thuật Quân sự (Trung
tâm Khoa học và Kỹ thuật Quân sự).
(Theo
Tri Thức)
BÀI THƠ MÀU TÍM HOA SIM
Nàng có ba người anh
Đi bộ đội
Những em nàng còn chưa biết nói.
Những em nàng còn chưa biết nói.
Khi tóc nàng xanh xanh.
Tôi là người chiến binh
xa gia đình
Yêu nàng như tình yêu em gái
Ngày hợp hôn nàng không đòi may áo cưới,
Tôi mặc đồ quân nhân
Đôi giày đinh bết bùn đất hành quân,
Nàng cười xinh xinh
Bên anh chồng độc đáo.
Tôi ở đơn vị về
Cưới nhau xong là đi!
Từ chiến khu xa
Nhớ về ái ngại
Nhớ về ái ngại
Lấy chồng đời chiến chinh
Mấy người đi trở lại
Lỡ khi mình không về
Thì thương người vợ chờ
Bé bỏng chiều quê ...
Nhưng không chết người trai khói lửa
Mà chết người gái nhỏ hậu phương
Tôi về không gặp nàng
Má tôi ngồi bên mộ con đ
ầy bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới
Thành bình hương
Tàn lạnh vây quanh ...
Tóc nàng xanh xanh
Ngắn chưa đầy búi
Em ơi!
Giây phút cuối
Không được nghe nhau nói
Không được trông thấy nhau một lần.
Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
áo nàng màu tím hoa sim
Ngày xưa một mình
đèn khuya
bóng nhỏ
Nàng vá cho chồng tấm áo
ngày xưa...
Một chiều rừng mưa
Ba người anh
Trên chiến trường Đông Bắc,
Biết tin em gái mất
Trước tin em lấy chồng.
Gió sớm thu về
Rờn rợn nước sông
Đứa em nhỏ lớn lên
Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị
Khi gió thu về
Cỏ vàng chân mộ chí.
Chiều hành quân
Qua những đồi sim ..
Những đồi hoa sim ...,
Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim
Tím cả chiều hoang biền biệt
Nhìn áo rách vai
Tôi hát trong màu hoa.
Áo tôi sứt chỉ đường tà,
Vợ tôi chết sớm mẹ già chưa khâu
Hữu Loan
Người Hà Nội chửi bậy
như hát hay, khó sửa!
Thiên Hạ Luận 26/06/2015
Từ công
sở, trường học đến hàng quán, bến xe, ngõ hẻm, đâu đâu cũng thấy nói tục, chửi
bậy. Nhiều người còn coi đó như một thói quen, không nói là thấy… thiếu thiếu.
Gái văn phòng lấy chửi bậy làm thú vui
Tình trạng “chửi bậy
như hát hay” đang ngày càng phổ biến tại môi trường văn phòng. Ban đầu chỉ là
một vài câu chửi bậy của các đồng nghiệp nam. Dần dần về sau, chị em cũng “góp
vui” khiến cho việc chửi bậy, nói bậy càng trở nên “xôm” hơn bao giờ hết.
Không ít người cho
rằng chửi bậy chỉ như một thói quen suồng sã thân mật chứ không bị coi là mất
lịch sự. Công việc căng thẳng, dễ bị stress nên dân văn phòng cũng hay văng
tục, nói một vài câu cho “thỏa” cái miệng mà thôi. Đôi khi đến chính sếp còn lỡ
miệng văng 1 câu trước mặt nhân viên khi tức giận. Như chị trưởng nhóm ở công
ty P.T.A, cực nổi tiếng vì một lần trong cuộc họp giao ban, quá tức cậu nhân
viên đã lười còn cãi chày cãi cối, khi cuộc họp vừa tan, mọi người chưa kịp ra
hết đã thấy sếp gằn giọng cáu kỉnh: “Làm ăn như con c…!”. Khỏi phải nói, nhân
viên choáng tới cỡ nào. Không chỉ lần đó, về sau mỗi lần không kìm chế được cơn
tức, chị sếp lại văng đủ loại “phụ khoa” khiến anh em chết khiếp!
Đặc biệt, công ty nào
có nhiều người trẻ tuổi làm việc thì tình trạng chửi bậy của chị em càng… rầm
rộ. Cứ người này học người kia, thậm chí không nói bậy còn bị cho là lạc hậu,
không thân thiện và suồng sã. Thu Ba (24t – nhân viên truyền thông) chia sẻ:
“Mới đầu đi làm nghe các chị trong phòng gọi nhau là con chó, xong nói đủ những
từ như đm, tổ sư, con mặt này, mặt kia… mình hoảng lắm. Sau mới biết đó là cách
nói chuyện bình thường của mọi người. Các chị cũng chẳng đanh đá như mình tưởng
tượng, chỉ thích nói chuyện kiểu suồng sã thôi. Bây giờ thỉnh thoảng nói chuyện
mình cũng đệm vài câu cho… giống các chị, đỡ bị lạc loài!”.
Học sinh tiểu học đã biết chửi thầy cô
Không khó để có thể
bắt gặp hình ảnh những cô cậu học sinh cấp 2, cấp 3 còn mặc đồng phục tụm ba
tụm bảy buông những từ ngữ tục tĩu chốn công cộng. Nhưng điều đáng báo động là
“căn bệnh” này đã “lây” lan sang ra cả học sinh tiểu học.
Chị Vân, một chủ quán
internet trên Quốc lộ 32 (Hà Nội) cho biết, cứ đến giờ tan học là nhiều học
sinh cấp 2, cấp 3 kéo nhau vào quán. Và vừa chơi, các “ông trời” này vừa liên
mồm chửi bậy.
Thậm chí, trên một số
mạng xã hội, các em còn lập hẳn hội “thích nói tục, chửi thề” để vào đó cùng
phô diễn “tài nghệ” nói tục. Nhiều em còn lôi thầy cô, cha mẹ ra chửi.
Cô giáo mầm non cũng chửi
Tháng 8/2014, cư dân
mạng được phen bức xúc với “lời tâm sự” của cô giáo mầm non tên Cát Tường: “Mệt
vãi cả chó mèo. Đút cho 5, 6 ăn quá là bực mình, ăn *** ăn cứ ngậm, muốn vả cho
mấy phát. Lúc nào cũng eo éo cô ơi, bạn đánh con, cô ơi, bạn trêu con. Đau đầu
*** tả được. Một thằng béo nhìn giống Chaien chuyên đi trêu bạn, hỏi nó tên gì
để quát nó, nó bảo tên Nam
đẹp trai. Tưởng nghe nhầm hỏi đi hỏi lại vẫn là Nam đẹp trai. *** Mày đẹp trai chắc
cả lớp toàn hot boy tương lai” (Từ ngữ thô tục của Cát Tường viết trên facebook
đã được thay bằng dấu ***).
Dễ nhận thấy, lời tâm
sự sử dụng ngôn ngữ đầy tính bạo lực như: muốn vả cho mấy phát, thằng béo…
Không kể đến việc sử dụng ngôn từ không phù hợp, cô giáo tương lai này còn tỏ
ra thiếu nhẫn nhịn trong từng câu nói đã khiến nhiều người cảm thấy bức xúc và
cho rằng cô gái đã chọn… nhầm nghề.
Tuy nhiên, khi được
mọi người góp ý thì cô giáo này không tiếp thu mà còn sửng cồ lên thanh minh:
“Con các bạn là vàng ai chẳng biết. Con tớ bị như thế tớ cũng xót. Nhưng nói
thật các bạn ở ngoài, các bạn nghĩ đơn giản. Cho bạn quản lý 40 cháu, rồi chúng
nó không nghe lời, không dám quát, không dám đánh. Lúc đây tớ nghĩ bạn ức chế
không kém gì tớ đâu. Viết trên Facebook chẳng ảnh hưởng gì đến việc hằng ngày
tớ đối xử với học sinh thế nào bạn nhé…. Bạn hãy yên tâm là dù có cáu gắt ầm
lên cũng chẳng ai dám động đến 1 sợi lông chân của con bạn đâu. Ức chế mà vẫn
phải dỗ như dỗ tà vẫn không xong. Mình cũng ước nhiều phụ huynh cho con ở nhà
lắm, đỡ phải trông mà lương tháng vẫn vậy. Đang thiếu giáo viên mà học sinh thì
nhiều quá”.
Khó sửa bởi nó là “cái tính”
Chủ quán bún ở Ngô Sỹ
Liên và quán cháo gà ở Lý Quốc Sư là hai “thánh chửi” trứ danh ở Hà Nội. Dù đã
có nhiều bài viết phản ánh về thái độ phục vụ cũng như phê phán thói quen mắng
chửi khách thậm tệ của chủ quán nhưng quán vẫn nườm nượp khách. Dường như vì
“quen bị chửi mắng” nên nhiều người cảm thấy bình thường, vẫn cười đùa và ăn
ngon lành.
Mới đây, khi nghe tin
Hà Nội sẽ “tuyên chiến” với nạn nói tục, chửi bậy, bà Hán Kim Thảo, chủ quán
bún mắng ở Ngô Sỹ Liên chia sẻ trên một tờ báo rằng nhiều khách bị mắng nhưng
họ không tỏ thái độ khó chịu, và bà không có ý định bỏ kiểu chửi mắng này bởi
đó đã là “cái tính” của bà rồi.
“Tính tôi thì sớm
nắng chiều mưa, tối còn có thể có bão… nên những lúc nóng giận tôi có quát
tháo, mắng chửi khách hàng. Còn khách hàng, tôi bán bún thế này là làm dâu trăm
họ, nhiều khi có những khách cũng khó chịu lắm khiến tôi phải chửi mắng”, bà
Thảo chia sẻ.
K. Minh (tổng hợp)
Nguồn vietnamnet
ĐIỂM KHÁC BIỆT GIỮA
CON GÁI SÀI GÒN VÀ CON GÁI HÀ NỘI
Posted
on 13.10.2013 by nguyentrongtao
i
KIM
DUNG:
Dạo
mới thống nhất đất nước, còn là cô nhà báo trẻ, tóc tết hai vai, mình vào Sài
Gòn công tác. Nghe cậu bạn trong đó kể, chỉ có hai câu để so sánh giữa con gái
hai thành phố lớn mà mình nhớ mãi đến giờ: Gái Sài Gòn gọi là gái thành phố.
Gái Hà Nội gọi là gái Thủ đô.
Thảo
nào đi bộ trên vỉa hè, mình nghe một câu nói “đuổi” theo của một chàng thanh
niên nào đó trong đám đông: Gái Thủ đô chúng bây ơi…
1.
Con gái Sài Gòn thích ăn me. Con gái Hà Nội thích ăn sấu. Tuy nhiên, gái Sài
Gòn thích me chín, còn gái Hà Nội mê sấu xanh.
2.
Gái Sài Gòn thích trai dễ thương. Gái Hà Nội thích trai đẹp.
3.
Gái Sài Gòn chia tay bạn trai thì khóc. Gái Hà Nội chia tay bạn trai thì cười.
4.
Gái Hà Nội thích đàn ông to. Gái Sài Gòn thích đàn ông cao
5.
Ai chửi gái Hà Nội sẽ bị chửi lại. Ai chửi gái Sài Gòn sẽ bị tránh xa.
6.
Gái Sài Gòn lôi bạn đi ăn tiệm, gái Hà Nội lôi bạn về nhà nấu cơm.
7.
Gái Hà Nội thích mua xe hơi. Gái Sài Gòn thích ngồi xe hơi.
8.
Gái Hà Nội thích trai thông minh. Gái Sài Gòn thích trai hài hước.
9.
Gái Hà Nội hay xem ti vi. Gái Sài Gòn hay đọc báo mạng.
10.
Gái Sài Gòn ít đi chợ Bến Thành. Gái Hà Nội rất hay ra Hồ Gươm.
11.
Lấy phải chồng xấu, gái Sài Gòn ly thân, gái Hà Nội ly dị.
12.
Gái Sài Gòn ngồi trong tiệm gội đầu để tán chuyện. Gái Hà Nội ngồi trong đó để
gội đầu.
13.
Gái Hà Nội xài nước hoa theo nhãn hiệu. Gái Sài Gòn xài theo mùi thơm.
14.
Gái Sài Gòn sợ nhất không có bạn trai. Gái Hà Nội sợ nhất thiên hạ biết mặt bạn
trai của mình.
15.
Khi đánh nhau, gái Sài Gòn dùng chân tay, gái Hà Nội dùng guốc dép.
16.
Đi dự tiệc cưới, gái Sài Gòn nhìn bản thân mình, gái Hà Nội nhìn cô dâu chú rể.
17.
Gái Hà Nội ăn quà chỗ nào đông. Gái Sài Gòn ăn quà chỗ nào ngon.
18.
Gái Hà Nội ăn xong xỉa răng. Gái Sài Gòn ăn xong uống cà phê.
19.
Gái Sài Gòn mặc đồ bộ ra đường. Gái Hà Nội mặc váy đầm trong nhà.
20.
Gái Hà Nội thích chồng chức to. Gái Sài Gòn thích chồng lương to.
21.
Gái Sài Gòn đi chùa vì vui. Gái Hà Nội đi chùa vì tin.
22.
Gái Hà Nội thích Tuấn Hưng. Gái Sài Gòn thích Đàm Vĩnh Hưng.
23.
Gái Hà Nội thích ăn kem que. Gái Sài Gòn thích ăn kem ly.
24.
Gái Hà Nội thích bún ốc, gái Sài Gòn thích bún bò.
25.
Gái Sài Gòn có thể yêu một lúc nhiều người. Gái Hà Nội có thể yêu nhiều người
nhưng liên tiếp.
26.
Gái Hà Nội có thể tự xưng là “bà”. Gái Sài Gòn không bao giờ như thế.
27.
Gái Hà Nội hay làm thơ. Gái Sài Gòn hay chụp hình.
28.
Gặp kẻ cướp, gái Sài Gòn la lớn, gái Hà Nội đuổi theo.
29.
Ngày Tết gái Hà Nội nấu canh măng, gái Sài Gòn nấu cà ri.
30.
Gái Hà Nội khi ăn phải có nước mắm. Gái Sài Gòn khi ăn phải có nước tương.
31.
Gặp con trai, gái Hà Nội hỏi bằng cấp, gái Sài Gòn hỏi gia cảnh.
32.
Gái Hà Nội hay khoe chồng con. Gái Sài Gòn hay khoe bè bạn.
33.
Gái Sài Gòn chụp hình áo tắm trên bãi biển. Gái Hà Nội chụp hình áo tắm ở bể
bơi.
34.
Gái Hà Nội thích lúc già sẽ giàu. Gái Sài Gòn thích lúc già sẽ trẻ lại.
35.
Khi chồng có bồ, gái Sài Gòn đánh bồ, còn gái Hà Nội đánh cả chồng lẫn bồ.
36.
Khi chồng về khuya, gái Hà Nội quát “Sao anh không đi luôn đi?” còn gái Sài Gòn
nói “Bây giờ mới về à?”.
37.
Khi lấy chồng ngoại quốc, gái Hà Nội thích lấy chồng châu Âu, gái Sài Gòn thích
lấy chồng châu Á.
38.
Thấy người nổi tiếng, gái Hà Nội bĩu môi, còn gái Sài Gòn chạy tới chụp hình.
39.
Gái Hà Nội bôi kem dưỡng da. Gái Sài Gòn bôi kem chống nắng.
40.
Đọc bài này, gái Sài Gòn quên ngay. Còn gái Hà Nội sẽ nhớ đến già!
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)