Thứ Sáu, 10 tháng 11, 2017

MẸ TÔI

MẸ TÔI
        Đây là lần đầu tiên tôi viết về Mẹ, khi Mẹ từ biệt thế giới này đã hơn 20 năm (3-2-1996 - 15 tháng Chạp Ất Hợi).
        Ngày tháng lớp lớp qua đi mà vẫn không thể nguôi ngoai nỗi nhớ Mẹ. Chị Kim Chi- chị gái của tôi năm nay đã 87 tuổi, vẫn mang nỗi tiếc nuối gần như sự ân hận không xan sẻ được rằng chưa báo đáp được gì cho mẹ. Chị nói : lúc có điều kiện chăm sóc cho mẹ thì mẹ đã rời xa con cháu rồi…

         Mẹ tôi cực nhọc từ tấm bé. Hơn mười tuổi đã phải theo đàn chị đi làm thuê, cấy mướn. Đồng đất Hưng Yên không có chỗ nhờ cậy, mẹ phải theo đàn chị lên vùng trung du Yên Thế (Bắc Giang) tìm việc. Tuổi thiếu nữ của mẹ ngày ngày cắm mặt xuống đất, cấy lúa, làm cỏ, bón phân, gặt hái… Mẹ lớn dần  trong nghề làm mướn…

Mẹ tôi gặp cha tôi cũng ở nơi làm thuê: Ông giáo làng. “Ông giáo làng” khi đó cũng chỉ là người ở trọ, phải tha phương kiếm sống.Quê ông mãi tận miệt Kiến An xa xôi.

Thành vợ chồng mà cha mẹ vẫn phải tiếp tục ở trọ.Việc ai người nấy làm, mãi tới khi mua rẻ được mảnh đất ở làng Đồng, xã Ngọc Lý tỉnh Bắc Giang mới thánh người “ra riêng”. Người làng Đồng còn nhớ ngày cha mẹ tôi dọn tới, ông bà chỉ có vỏn vẹn một gánh quần áo, nồi niêu…

Cha tiếp tục nghề dạy học, còn mẹ đã dần “đổi nghề”. Mẹ mua thóc về xay giã (nghề hàng xáo), lấy cám nuôi lợn rồi bán gạo, có dư ra chút chút cho bữa ăn gia đình.
Mẹ tôi kể: Những năm đó ai cũng nghèo, đói kém nhiều lắm. Xay giã được vài chục  cân gạo đem bán, cả  mươi người mua mới xong phiên chợ. Cứ như vậy, ngày tháng qua đi… Nghề hàng xáo không dừng ở một “nồi” gạo (khoảng 14-15 kilôgam) mà “nở nồi”, mẹ như người làm nghề chuyên nghiệp: vài ba tạ thóc, mấy trăm cân gạo bán ra và lợn nuôi đã dần dà lên năm bẩy con. Lợn nái mỗi năm mỗi lứa. Lợn mẹ đẻ lợn con lít nhít…ra tiền.
Rồi một ngày đẹp trời, có một người anh con ông bác ruột của mẹ (ông tên là Trần Văn Phiếm) làm viên chức ở mỏ Vàng Danh, thương đứa em lam lũ và tháo vát, đã cho mẹ tôi mượn chút vốn…
Tiền còm rồi cũng đẻ ra tiền, ruộng đẻ ra ruộng, giúp tạo dựng cuộc sống  cho đỡ vất vả.  Hai chữ “dân ngụ cư” của cha mẹ biến mất lúc nào không hay
Đời sống khấm khá tự nhiên thành người được tôn trọng. Cha tôi được học trò (và cả người không học cha) đều gọi là “thầy giáo” “ông giáo” với vẻ nể nang,kính trọng. Còn mẹ tôi luôn luôn được mọi người gọi “bà giáo”- dù mẹ không dính dáng gì tới công việc của cha tôi (!).
Cuộc sống dễ chịu, êm ả cũng được mươi mười lăm năm thì cha tôi mất do bọn lưu manh kéo đến cướp của, giết người…
Ngày cha tôi mất, Mẹ với sáu người con, chưa ai có sự nghiệp riêng. Mẹ mất quá lớn một chỗ dựa tinh thần, mất một trụ cột.

Mẹ phải vượt qua và đã vượt ngoạn mục. Các con tiếp tục được đi học, kinh tế gia đình được duy trì vững vàng. Anh trai lớn (Nguyễn Khắc Chính) và chị gái Nguyễn Thị Kim Chi được mẹ khích lệ tham gia việc nước, việc của chính phủ cụ Hồ…

Nhưng rồi cũng chẳng bao lâu, người Pháp trở lại. Họ chiếm đóng thị xã Bắc Giang, đóng đồn ở núi Mỏ Thổ, cách làng Đồng hơn một kilomet và biến vùng Ngọc Lý thành “vùng trắng”. Ruộng đất thành hoang hóa. Mẹ phải bỏ tất cả, đưa các con chạy “tản cư” lên tỉnh Thái Nguyên. Rồi nhà cửa của mẹ ở làng Đồng tiếp tục bị cướp phá. Không rõ kẻ cướp từ đâu, lợi dụng lúc dân làng tản cư, họ ngang nhiên tới dỡ nhà, chuồng trâu bò, nạy từng viên gạch mang đi…Cơ ngơi bao năm cha mẹ tôi tạo dựng… chỉ còn là một đám đất bị cạy phá nham nhở…

 Cuộc tản cư chưa biết ngày trở về. Trong nhà, ngoài bốn anh em chúng tôi, lúc này có thêm cháu Nguyễn Thị  Khánh Vinh, con của người anh cả (anh Nguyễn Khắc Chính và chị Nguyễn Thị Vân, họ đều phải thoát ly gia đình đi kháng chiến)…Gạo, thực phẩm và tiền mẹ mang theo khi tản cư…đang cạn dần, mẹ vẫn bảo chúng tôi cứ đi học bình thường, mẹ đã có cách lo cho các con. Cách của mẹ là mua gạo từ miền xuôi đưa lên thị xã Thái Nguyên., nơi có đông bà con tản cư. Những chuyến thuyền chở gạo đầu tiên, bán ra rất nhanh. Thuyền 10-15 tấn chạy dọc sông máng, chỉ  vài ba ngày là lại quay vòng. Mẹ còn góp tiền với một nhà buôn khác, mua chung thuyền,  tự chở gạo…
Nhưng rồi chỉ được  vài ba tháng, thuyền mất luôn do người chung vốn bỏ chạy về vùng chiếm đóng của người Pháp. Thuyền mất, cụt vốn, nhưng nếu còn thuyền cũng không dùng  được  vì người Pháp ném bom phá đập sông Cái, nước không về nhánh sông mà mẹ tôi vẫn dùng thuyền !
Gạo vẫn được người buôn nườm nượp chuyển  lên Thái Nguyên  bằng các xe đạp thồ. Nhưng thồ gạo thì mẹ không làm nổi . Mẹ tìm sinh kế bằng cách mở quán cơm, quán trọ, đón khách là các tốp xe thồ…   Quán ngày một đông khách, mẹ mua tiếp hai dẫy nhà bên cạnh, rồi dựng một dẫy phía sau làm thêm quán trọ…

Kháng chiến, ai cũng gặp khó khăn, nhưng mẹ vẫn có “đồng ra đồng vào” nuôi dạy chúng tôi…

Nhưng điều gì cũng chỉ có một thời. Pháp thua ở Điện Biên Phủ, hòa bình lập lại…Chuyện buôn bán thay đổi theo thời cuộc. Người ta vẫn đi lại, buôn bán, nhưng cái nhánh đường tắt qua làng Đức Lân –nơi  chúng tôi tản cư… chỉ còn người làng đi cày cấy. Dẫy quán của mẹ tôi phải rao bán giá rẻ mạt mà lâu lắm mới có người mua…

Làm gì để kiếm sống bây giờ đây? Về lại làng Đồng ư? Đất ruộng lại phải vỡ hoang sao? Lấy tiền đâu mà dựng lại nhà ở. Bài toán không thể giải khi mẹ tôi đã bắt đầu xuống sức và  tiền bạc gần như cạn kiệt. Tôi nghĩ còn một lý do nữa, mẹ không muốn về làng Đồng vì 15 mẫu ruộng của mẹ chắc gì “địa phương” để yên. Mẹ đã thấy ở chỗ tản cư, chỉ có vài ba mẫu ruộng bạc màu là đã thành “địa chủ”, bị đấu tố lia chia. Dù đã bỏ hẳn ruộng đất trên 5 năm, ở chỗ tản cư quy gia đình là tiểu thương, nhưng nghe tin ở làng, người ta nói mẹ là “địa chủ kháng chiến”. Vậy thì bỏ quách, khỏi dính dáng mệt người. Và thực sự gia cảnh khi đó (năm 1954), mẹ tôi đã quá mệt mỏi rồi…
Mẹ quyết định về Hà Nội, tìm nhà có giá thuê rẻ mạt và ra chợ mua bán đồ cũ…Đồ cũ cũng không nuôi nổi các con, ít lâu sau mẹ vào một công ty quốc doanh làm nhân viên thu dọn kho, rồi sau đó là trông trẻ…
Gần bẩy mươi tuổi mẹ tôi mới nghỉ việc, hưởng chế độ trợ cấp hàng tháng cho người mất sức lao động.
Mấy năm sau, khi bẩy mươi bẩy tuổi, mẹ tôi vào Sài Gòn –TPHCM  “định cư” cùng các con cháu.
Rồi chín mươi hai tuổi, mẹ về với Tổ tiên, vĩnh biệt tất cả các con, cháu, chắt…
Thế  là  cũng hết một đời người…

Một đời người mà những người ít nhiều biết về mẹ tôi chỉ nghĩ đó là bà mẹ giỏi dang, tháo vát, từng trải và sức chịu đựng gian truân đáng nể…
Chị em tôi cũng nghĩ như thế, nhưng nghĩ mà cảm phục rất nhiều, kính trọng và xót thương cho mẹ. Xót vì mẹ đã phải gánh chịu quá nhiều nỗi đau mà cuộc đời không hẳn có nhiều người đau giống mẹ..
Cha tôi chết trong tình trạng bị cướp giết, khi mẹ tôi mới 40 tuổi. Một bà mẹ với 6 người con chưa ai trưởng thành. Sự chịu đựng về nỗi khó khăn cơm áo không thể so được với sự tổn thương tinh hần, mất hẳn một chỗ dựa trụ cột của gia đình. Hoàn cảnh cái chết của cha tôi là nỗi đau giằng xé suốt đời mẹ. Rồi tiếp theo là những cái chết của mấy người con. Con trai cả của mẹ-anh Nguyễn Khắc Chính chết khi tương lai rất sáng sủa, anh mới 26 tuổi,. Anh chết trong một trận cùng bộ đội chống càn của giặc Pháp ở vùng Lương Tài –Bắc Ninh. Mẹ tôi và chị dâu (chị Nguyễn Thị Vân) sau hòa bình lập lại, đã về Bắc Ninh tìm mộ anh. Nhưng thật oái ăm, sơ đồ mộ anh đã bị tiêu hủy vì người giữ sơ đồ là bí thư chi bộ bị bắt, do nghi là “Quốc Dân Đảng”, bà vợ ở nhà đốt hết các giấy tờ vì sợ rắc rối…
Vậy là khi mẹ còn sống, mẹ vẫn chưa biết được nơi chôn cất anh Chính.
Nỗi đau trước chưa nguôi thì nỗi đau tiếp lại dồn dập đến : Năm trước (1981), con trai út (Nguyễn Khắc Chân) chết khi mới 36 tuổi do trọng bệnh, xương cốt được thiêu từ nước Nga xa xôi đưa về. Năm sau (1982), con gái áp út (Nguyễn Thị Minh Châu) chết khi sinh mổ ở tuổi 42. Con trai thứ 3 (Nguyễn Khắc Chinh) thì mất tích từ 1955 khi anh mới vừa 21 tuổi và cho đến khi mẹ từ trần, vẫn chưa có tin gì về anh Chinh.

Sáu người con mà những năm tháng cuối đời, mẹ chỉ có 2 người  ở bên…

TP Sài Gòn TPHồ Chí Minh 11/2017
 
blog cá nhân Blogger Template by Ipietoon Blogger Template