MẸ
TÔI
Đây là lần đầu tiên tôi viết về Mẹ, khi
Mẹ từ biệt thế giới này đã hơn 20 năm (3-2-1996 - 15 tháng Chạp Ất Hợi).
Ngày tháng lớp lớp qua đi mà vẫn không thể
nguôi ngoai nỗi nhớ Mẹ. Chị Kim Chi- chị gái của tôi năm nay đã 87 tuổi, vẫn
mang nỗi tiếc nuối gần như sự ân hận không xan sẻ được rằng chưa báo đáp được
gì cho mẹ. Chị nói : lúc có điều kiện chăm sóc cho mẹ thì mẹ đã rời xa con cháu
rồi…
Mẹ tôi cực nhọc từ tấm bé. Hơn mười tuổi
đã phải theo đàn chị đi làm thuê, cấy mướn. Đồng đất Hưng Yên không có chỗ nhờ
cậy, mẹ phải theo đàn chị lên vùng trung du Yên Thế (Bắc Giang) tìm việc. Tuổi
thiếu nữ của mẹ ngày ngày cắm mặt xuống đất, cấy lúa, làm cỏ, bón phân, gặt hái…
Mẹ lớn dần trong nghề làm mướn…
Mẹ tôi gặp cha tôi cũng ở nơi làm thuê: Ông
giáo làng. “Ông giáo làng” khi đó cũng chỉ là người ở trọ, phải tha phương kiếm
sống.Quê ông mãi tận miệt Kiến An xa xôi.
Thành vợ chồng mà cha mẹ vẫn phải tiếp tục ở
trọ.Việc ai người nấy làm, mãi tới khi mua rẻ được mảnh đất ở làng Đồng, xã Ngọc
Lý tỉnh Bắc Giang mới thánh người “ra riêng”. Người làng Đồng còn nhớ ngày cha
mẹ tôi dọn tới, ông bà chỉ có vỏn vẹn một gánh quần áo, nồi niêu…
Cha tiếp tục nghề dạy học, còn mẹ đã dần “đổi
nghề”. Mẹ mua thóc về xay giã (nghề hàng xáo), lấy cám nuôi lợn rồi bán gạo, có
dư ra chút chút cho bữa ăn gia đình.
Mẹ tôi kể: Những năm đó ai cũng nghèo, đói
kém nhiều lắm. Xay giã được vài chục cân
gạo đem bán, cả mươi người mua mới xong
phiên chợ. Cứ như vậy, ngày tháng qua đi… Nghề hàng xáo không dừng ở một “nồi”
gạo (khoảng 14-15 kilôgam) mà “nở nồi”, mẹ như người làm nghề chuyên nghiệp:
vài ba tạ thóc, mấy trăm cân gạo bán ra và lợn nuôi đã dần dà lên năm bẩy con.
Lợn nái mỗi năm mỗi lứa. Lợn mẹ đẻ lợn con lít nhít…ra tiền.
Rồi một ngày đẹp trời, có một người anh con
ông bác ruột của mẹ (ông tên là Trần Văn Phiếm) làm viên chức ở mỏ Vàng Danh,
thương đứa em lam lũ và tháo vát, đã cho mẹ tôi mượn chút vốn…
Tiền còm rồi cũng đẻ ra tiền, ruộng đẻ ra ruộng,
giúp tạo dựng cuộc sống cho đỡ vất vả. Hai chữ “dân ngụ cư” của cha mẹ biến mất lúc
nào không hay
Đời sống khấm khá tự nhiên thành người được
tôn trọng. Cha tôi được học trò (và cả người không học cha) đều gọi là “thầy
giáo” “ông giáo” với vẻ nể nang,kính trọng. Còn mẹ tôi luôn luôn được mọi người
gọi “bà giáo”- dù mẹ không dính dáng gì tới công việc của cha tôi (!).
Cuộc sống dễ chịu, êm ả cũng được mươi mười
lăm năm thì cha tôi mất do bọn lưu manh kéo đến cướp của, giết người…
Ngày cha tôi mất, Mẹ với sáu người con, chưa
ai có sự nghiệp riêng. Mẹ mất quá lớn một chỗ dựa tinh thần, mất một trụ cột.
Mẹ phải vượt qua và đã vượt ngoạn mục. Các
con tiếp tục được đi học, kinh tế gia đình được duy trì vững vàng. Anh trai lớn
(Nguyễn Khắc Chính) và chị gái Nguyễn Thị Kim Chi được mẹ khích lệ tham gia việc
nước, việc của chính phủ cụ Hồ…
Nhưng rồi cũng chẳng bao lâu, người Pháp trở
lại. Họ chiếm đóng thị xã Bắc Giang, đóng đồn ở núi Mỏ Thổ, cách làng Đồng hơn
một kilomet và biến vùng Ngọc Lý thành “vùng trắng”. Ruộng đất thành hoang hóa.
Mẹ phải bỏ tất cả, đưa các con chạy “tản cư” lên tỉnh Thái Nguyên. Rồi nhà cửa
của mẹ ở làng Đồng tiếp tục bị cướp phá. Không rõ kẻ cướp từ đâu, lợi dụng lúc
dân làng tản cư, họ ngang nhiên tới dỡ nhà, chuồng trâu bò, nạy từng viên gạch
mang đi…Cơ ngơi bao năm cha mẹ tôi tạo dựng… chỉ còn là một đám đất bị cạy phá
nham nhở…
Cuộc tản
cư chưa biết ngày trở về. Trong nhà, ngoài bốn anh em chúng tôi, lúc này có
thêm cháu Nguyễn Thị Khánh Vinh, con của
người anh cả (anh Nguyễn Khắc Chính và chị Nguyễn Thị Vân, họ đều phải thoát ly
gia đình đi kháng chiến)…Gạo, thực phẩm và tiền mẹ mang theo khi tản cư…đang cạn
dần, mẹ vẫn bảo chúng tôi cứ đi học bình thường, mẹ đã có cách lo cho các con.
Cách của mẹ là mua gạo từ miền xuôi đưa lên thị xã Thái Nguyên., nơi có đông bà
con tản cư. Những chuyến thuyền chở gạo đầu tiên, bán ra rất nhanh. Thuyền
10-15 tấn chạy dọc sông máng, chỉ vài ba
ngày là lại quay vòng. Mẹ còn góp tiền với một nhà buôn khác, mua chung thuyền,
tự chở gạo…
Nhưng rồi chỉ được vài ba tháng, thuyền mất luôn do người chung vốn
bỏ chạy về vùng chiếm đóng của người Pháp. Thuyền mất, cụt vốn, nhưng nếu còn
thuyền cũng không dùng được vì người Pháp ném bom phá đập sông Cái, nước
không về nhánh sông mà mẹ tôi vẫn dùng thuyền !
Gạo vẫn được người buôn nườm nượp chuyển lên Thái Nguyên bằng các xe đạp thồ. Nhưng thồ gạo thì mẹ
không làm nổi . Mẹ tìm sinh kế bằng cách mở quán cơm, quán trọ, đón khách là các
tốp xe thồ… Quán ngày một đông khách, mẹ mua tiếp hai dẫy
nhà bên cạnh, rồi dựng một dẫy phía sau làm thêm quán trọ…
Kháng chiến, ai cũng gặp khó khăn, nhưng mẹ vẫn
có “đồng ra đồng vào” nuôi dạy chúng tôi…
Nhưng điều gì cũng chỉ có một thời. Pháp thua
ở Điện Biên Phủ, hòa bình lập lại…Chuyện buôn bán thay đổi theo thời cuộc. Người
ta vẫn đi lại, buôn bán, nhưng cái nhánh đường tắt qua làng Đức Lân –nơi chúng tôi tản cư… chỉ còn người làng đi cày cấy.
Dẫy quán của mẹ tôi phải rao bán giá rẻ mạt mà lâu lắm mới có người mua…
Làm gì để kiếm sống bây giờ đây? Về lại làng
Đồng ư? Đất ruộng lại phải vỡ hoang sao? Lấy tiền đâu mà dựng lại nhà ở. Bài
toán không thể giải khi mẹ tôi đã bắt đầu xuống sức và tiền bạc gần như cạn kiệt. Tôi nghĩ còn một
lý do nữa, mẹ không muốn về làng Đồng vì 15 mẫu ruộng của mẹ chắc gì “địa
phương” để yên. Mẹ đã thấy ở chỗ tản cư, chỉ có vài ba mẫu ruộng bạc màu là đã
thành “địa chủ”, bị đấu tố lia chia. Dù đã bỏ hẳn ruộng đất trên 5 năm, ở chỗ tản
cư quy gia đình là tiểu thương, nhưng nghe tin ở làng, người ta nói mẹ là “địa
chủ kháng chiến”. Vậy thì bỏ quách, khỏi dính dáng mệt người. Và thực sự gia cảnh
khi đó (năm 1954), mẹ tôi đã quá mệt mỏi rồi…
Mẹ quyết định về Hà Nội, tìm nhà có giá thuê
rẻ mạt và ra chợ mua bán đồ cũ…Đồ cũ cũng không nuôi nổi các con, ít lâu sau mẹ
vào một công ty quốc doanh làm nhân viên thu dọn kho, rồi sau đó là trông trẻ…
Gần bẩy mươi tuổi mẹ tôi mới nghỉ việc, hưởng
chế độ trợ cấp hàng tháng cho người mất sức lao động.
Mấy năm sau, khi bẩy mươi bẩy tuổi, mẹ tôi
vào Sài Gòn –TPHCM “định cư” cùng các
con cháu.
Rồi chín mươi hai tuổi, mẹ về với Tổ tiên,
vĩnh biệt tất cả các con, cháu, chắt…
Thế là
cũng hết một đời người…
Một đời người mà những người ít nhiều biết về
mẹ tôi chỉ nghĩ đó là bà mẹ giỏi dang, tháo vát, từng trải và sức chịu đựng gian
truân đáng nể…
Chị em tôi cũng nghĩ như thế, nhưng nghĩ mà cảm
phục rất nhiều, kính trọng và xót thương cho mẹ. Xót vì mẹ đã phải gánh chịu
quá nhiều nỗi đau mà cuộc đời không hẳn có nhiều người đau giống mẹ..
Cha tôi chết trong tình trạng bị cướp giết,
khi mẹ tôi mới 40 tuổi. Một bà mẹ với 6 người con chưa ai trưởng thành. Sự chịu
đựng về nỗi khó khăn cơm áo không thể so được với sự tổn thương tinh hần, mất hẳn
một chỗ dựa trụ cột của gia đình. Hoàn cảnh cái chết của cha tôi là nỗi đau giằng
xé suốt đời mẹ. Rồi tiếp theo là những cái chết của mấy người con. Con trai cả
của mẹ-anh Nguyễn Khắc Chính chết khi tương lai rất sáng sủa, anh mới 26 tuổi,.
Anh chết trong một trận cùng bộ đội chống càn của giặc Pháp ở vùng Lương Tài –Bắc
Ninh. Mẹ tôi và chị dâu (chị Nguyễn Thị Vân) sau hòa bình lập lại, đã về Bắc
Ninh tìm mộ anh. Nhưng thật oái ăm, sơ đồ mộ anh đã bị tiêu hủy vì người giữ sơ
đồ là bí thư chi bộ bị bắt, do nghi là “Quốc Dân Đảng”, bà vợ ở nhà đốt hết các
giấy tờ vì sợ rắc rối…
Vậy là khi mẹ còn sống, mẹ vẫn chưa biết được
nơi chôn cất anh Chính.
Nỗi đau trước chưa nguôi thì nỗi đau tiếp lại
dồn dập đến : Năm trước (1981), con trai út (Nguyễn Khắc Chân) chết khi mới 36
tuổi do trọng bệnh, xương cốt được thiêu từ nước Nga xa xôi đưa về. Năm sau
(1982), con gái áp út (Nguyễn Thị Minh Châu) chết khi sinh mổ ở tuổi 42. Con
trai thứ 3 (Nguyễn Khắc Chinh) thì mất tích từ 1955 khi anh mới vừa 21 tuổi và
cho đến khi mẹ từ trần, vẫn chưa có tin gì về anh Chinh.
Sáu người con mà những năm tháng cuối đời, mẹ
chỉ có 2 người ở bên…
TP Sài Gòn TPHồ Chí Minh 11/2017
0 nhận xét:
Đăng nhận xét